Lược sử hình thành chính sách người có công
Chỉ sau Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946) chưa đầy 2 tháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký, ban hành Sắc lệnh số 20SL ngày 16/02/1947 đặt “chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ”. Sắc lệnh được thực thi trong suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Sau ngày hòa bình được lập lại trên miền Bắc năm 1954, chính sách trên được sửa đổi, bổ sung bằng các Nghị định số 18/NĐ và 19/NĐ ngày 17/11/1954 nhằm nâng lên mức hưởng thụ của các đối tượng hưởng chính sách. Ngày 27/7/1956, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 980/TTg về Điều lệ ưu đãi thương binh, dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương: Điều lệ ưu đãi bệnh binh; Điều lệ ưu đãi gia đình liệt sĩ. Sau ngày thống nhất đất nước, ở các tỉnh phía Nam thực hiện chính sách thương binh, liệt sĩ theo Nghị định số 08/NĐ-76 ngày 17/6/1976 của Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Trong đó có quy định đối tượng, tiêu chuẩn xác nhận thương binh, liệt sĩ, chế độ trợ cấp và các chế độ ưu đãi đối với những người tham gia cách mạng mà bị thương hoặc hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược. Ở các tỉnh phía Bắc, Nhà nước chủ trương tiếp tục giải quyết một số vấn đề chưa thật hợp lý trong chính sách thương binh, liệt sĩ, người tham gia kháng chiến do lịch sử để lại...
Để xử lý một cách căn bản chính sách ưu đãi đối với những người tham gia cách mạng, giúp đỡ cách mạng, Nhà nước đã tổ chức tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học và ban hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (gọi tắt là Pháp lệnh ưu đãi người có công) và Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Quá trình hình thành và phát triển của Pháp lệnh
Thực tế đến đầu năm 1990 chúng ta mới có hòa bình trên phạm vi cả nước, vì đến tháng 10/1989 chiến tranh ở biên giới phía Bắc mới thực sự kết thúc. Những năm 1990 - 1993 chúng ta mới có điều kiện tập trung nghiên cứu một hệ thống chính sách cơ bản đối với những người tham gia cách mạng, đặc biệt là đối với lực lượng vũ trang. Sau khi được Chủ tịch nước phê chuẩn, ngày 29/8/1994 Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) khóa IX đã ban hành 2 pháp lệnh: Pháp lệnh số 36-L/CT về việc ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng; và Pháp lệnh số 08/1994/PL-UBTVQH9 Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Đây là các văn bản pháp lý đầu tiên thống nhất quy định tương đối toàn diện về đối tượng được công nhận là người có công; các chế độ ưu đãi trợ cấp, chăm sóc sức khỏe, văn hóa, giáo dục, nhà ở, việc làm... trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong công tác đền ơn đáp nghĩa. Pháp lệnh này cũng đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công trong thời kỳ đất nước đổi mới.
Trong quá trình thực hiện, Pháp lệnh đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần. Một trong những nguyên tắc sửa đổi, bổ sung là, phải bao quát đầy đủ các đối tượng có công và mức thụ hưởng chính sách tăng tiến theo trình độ phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nước. Theo đó, năm 1998, UBTVQH khóa X đã ban hành Pháp lệnh số 08/1998/PL-UBTVQH10 ngày 01/12/1998 sửa đổi Điều 21 của Pháp lệnh năm 1994 nhằm điều chỉnh chế độ trợ cấp đối với người hoạt động kháng chiến. Năm 2000, tiếp tục sửa đổi, bổ sung một số điều nhằm hoàn thiện chính sách ưu đãi và giải quyết một số vướng mắc phát sinh trong thực tiễn. Năm 2002, sửa đổi, bổ sung thêm một số quy định về đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh, điều kiện xác nhận và chế độ ưu đãi đối với người có công.
Năm 2005, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI đã ban hành Pháp lệnh mới số hiệu 26/2005/PL-UBTVQH11 thay thế Pháp lệnh năm 1994 và các lần sửa đổi trước đó. Trong Pháp lệnh này đã điều chỉnh cả đối tượng vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Nếu trước đây chưa khái quát được tên pháp lệnh nên tên cũ rất dài, liệt kê ra tất cả các đối tượng, thì từ đây tất cả các đối tượng có tên chung là người có công với cách mạng; tên pháp lệnh là Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. Việc sửa đổi, bổ sung lần này đã tạo khung khổ pháp lý thống nhất các đối tượng, các chế độ đãi ngộ. Đến năm 2007 Pháp lệnh này lại được sửa đổi, bổ sung một số điều và mang số hiệu 35/2007/PL-UBTVQH11. Năm 2012, UBTVQH khóa XIII ban hành Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 tiếp tục sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007 nhằm mở rộng đối tượng người có công và điều chỉnh một số chế độ ưu đãi.
Năm 2020, UBTVQH khóa XIV đã ban hành Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 thay thế Pháp lệnh năm 2005 và các lần sửa đổi, bổ sung trước đó. Mặc dù pháp lệnh đã tương đối bao quát danh mục người có công và chính sách, chế độ đãi ngộ đối với từng nhóm đối tượng đã được tăng lên, nhưng vẫn còn những đối tượng phải được bổ sung; hơn nữa, bước vào kỷ nguyên mới, nền kinh tế xã hội có những bước khởi sắc cũng như việc đổi mới chính quyền địa phương từ 3 cấp thành 2 cấp nên rất cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung pháp lệnh cho hoàn chỉnh, phù hợp với thực tiễn hơn.
Pháp lệnh số 05/2026 - bước hoàn thiện đầy đủ chính sách người có công
Qua các lần sửa đổi, bổ sung, đến Pháp lệnh này là bước hoàn thiện đầy đủ nhất chính sách ưu đãi người có công.
Hệ thống chính sách, chế độ ưu đãi người có công bao gồm:
1. Trợ cấp, phụ cấp hằng tháng; trợ cấp một lần;
2. Bảo hiểm y tế;
3. Điều dưỡng phục hồi sức khỏe;
4. Cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng cần thiết theo chỉ định của cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng;
5. Ưu tiên tuyển sinh, ưu tiên tạo việc làm;
6. Hỗ trợ để theo học đến trình độ đại học tại cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân;
7. Hỗ trợ cải thiện nhà ở theo công lao, hoàn cảnh của từng người hoặc khi có khó khăn về nhà ở;
8. Miễn, giảm tiền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất ở, công nhận quyền sử dụng đất ở, khi được mua nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước;
9. Ưu tiên giao hoặc thuê đất, mặt nước, mặt nước biển; ưu tiên giao khoán bảo vệ và phát triển rừng;
10. Vay vốn ưu đãi sản xuất, kinh doanh;
11. Miễn hoặc giảm thuế theo quy định của pháp luật.
![]()
Những điểm mới của Pháp lệnh số 05/2026/UBTVQH16
1. Pháp lệnh đã bổ sung đầy đủ nhất các đối tượng điều chỉnh: Các pháp lệnh trước đã điều chỉnh các đối tượng tham gia cách mạng qua các thời kỳ đất nước bị xâm lược, đất nước có chiến tranh... Nay, Pháp lệnh này tiếp tục bổ sung các đối tượng làm nhiệm vụ ở biên giới, hải đảo, làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào, Campuchia được tặng thưởng Huân chương Chiến công; các lực lượng chức năng trực tiếp làm nhiệm vụ, công vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm mà bị thương hoặc hy sinh trong thời bình; đồng thời bổ sung điều kiện được công nhận là liệt sĩ, thương binh đối với các đối tượng này.
2. Về việc công nhận là liệt sĩ đối với thương binh và người hưởng chính sách như thương binh khi từ trần do vết thương tái phát: Tại điểm a khoản 1 Điều 14 Pháp lệnh năm 2020 quy định thương binh chết do vết thương tái phát phải có bệnh án điều trị của bệnh viện tuyến huyện trở lên và biên bản kiểm thảo tử vong, trong đó thể hiện vết thương tái phát là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong thì mới đủ điều kiện công nhận liệt sĩ. Thực tế không thực hiện được, vì khi có dấu hiệu trở bệnh nặng, khó qua khỏi, các đối tượng đều về để chết ở nhà. Do đó, sửa đổi, bổ sung lần này chỉ quy định điều kiện được công nhận là liệt sĩ đối với thương binh và người hưởng chính sách như thương binh bị mất sức khỏe từ 61% đến 80%, không quy định đối với trường hợp mất sức khỏe từ 81% trở lên (được hiểu, đương nhiên được công nhận là liệt sĩ).
3. Bổ sung chế độ trợ cấp người phục vụ cho cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa. Số lượng đối tượng này chỉ còn dưới một nghìn người, lại tuổi cao (90-105 tuổi) nhưng các cụ là những tấm gương sáng cho con cháu noi theo.
4. Tăng cường số lượng đối tượng điều dưỡng hằng năm: Trước đây, đối tượng được điều dưỡng hằng năm chỉ chiếm hơn 2%, đối tượng điều dưỡng 2 năm một lần chiếm gần 98%. Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung lần này đưa số đối tượng được điều dưỡng hằng năm lên gần 21% bằng cách chuyển một bộ phận khá lớn đối tượng điều dưỡng 2 năm một lần sang điều dưỡng hằng năm.
Pháp lệnh mang tính khoa học cao
Đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh, trong quá trình thực hiện chính sách, Nhà nước đã tổ chức nghiên cứu các chuyên đề khoa học, tính toán quy định được mức chuẩn cho từng thời gian. Do đó, việc xác định mức hưởng hằng tháng của từng người trở nên đơn giản hơn. Ai cũng có thể tự tính được theo công thức: mức hưởng bằng tỷ lệ tổn thương cơ thể nhân với mức chuẩn. Mức chuẩn thay đổi theo thời gian. Vừa qua, mức chuẩn diễn biến như sau: năm 2010 là 0,770 triệu đồng; năm 2018 là 1,515 triệu đồng; năm 2019 là 1,624 triệu đồng; từ năm 2024 đến nay là 2,789 triệu đồng. Còn tỷ lệ tổn thương cơ thể được tính từ 21% đến 100%.
Đặc biệt là, khi Pháp lệnh tăng mức hưởng của các chế độ thì cũng tính toán ngay được lượng kinh phí để thực thi các chế độ đó. Kinh phí dự tính bao gồm kinh phí điều chỉnh chế độ điều dưỡng khoảng 250 tỷ đồng/năm; kinh phí thực hiện chế độ trợ cấp hằng tháng phục vụ cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa khoảng 27,54 tỷ đồng/năm; ước cả hai khoản khoảng 277,54 tỷ đồng/năm. Ngày 01/01/2027, khi Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành thì đã có kinh phí sẵn sàng...
“Dân tộc Việt Nam đời đời khắc ghi công đức, sự hy sinh, cống hiến của các bậc tiên tổ, tiền nhân”, đó là lời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026). Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công lần này chính là một trong những việc làm để cụ thể hóa sự chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước. Mục tiêu là tiếp tục nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của người có công và gia đình họ, bảo đảm từ mức trung bình khá trở lên so với cộng đồng dân cư nơi họ sinh sống./.
Ngọc Thanh
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả