Trên cơ sở các công bố thống kê năm 2025 và thông tin dự báo nhu cầu nhân lực giai đoạn 2025-2030, bài viết phân tích quy mô, xu hướng và cơ cấu kinh tế có liên quan đến nhu cầu lao động; nhận diện lợi thế về quy mô thị trường, hệ sinh thái đào tạo và khả năng kết nối các chuỗi ngành; đồng thời làm rõ những điểm nghẽn về lệch pha kỹ năng, chất lượng việc làm, chuyển tiếp từ trường học sang việc làm, hạ tầng hỗ trợ lao động và dữ liệu thị trường sau hợp nhất. Bài viết đề xuất các hàm ý chính sách đến năm 2030, tầm nhìn năm 2035, tập trung vào xây dựng hệ thống dữ liệu và dự báo nhân lực, đào tạo theo nhu cầu kỹ năng, đổi mới dịch vụ việc làm, nâng cao chất lượng việc làm và gắn chính sách lao động với quy hoạch giao thông, nhà ở và dịch vụ xã hội. Bài viết nhấn mạnh lợi thế về quy mô chỉ có thể chuyển hóa thành năng suất và giá trị gia tăng khi được hỗ trợ bởi một thị trường lao động liên thông, có khả năng kết nối cung - cầu và tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp cho người lao động.
Từ khóa: thị trường lao động; nguồn nhân lực; việc làm; kỹ năng nghề; Thành phố Hồ Chí Minh; hàm ý chính sách.
Abstract: The merger of Ho Chi Minh City, Binh Duong, and Ba Ria - Vung Tau, effective from July 1, 2025, has significantly expanded the regional economic space and labor market, creating favorable conditions for enhanced integration among service centers, manufacturing industries, seaports, logistics, energy, and tourism. However, administrative boundary expansion does not automatically generate an integrated labor market and efficient human resource allocation.
Based on statistical data from 2025 and labor demand forecasts for the 2025-2030 period, this paper analyzes the scale, trends, and economic structures related to labor demand; identifies comparative advantages in market scale, training ecosystems, and industry chain connectivity; and clarifies bottlenecks regarding skills mismatches, job quality, school-to-work transitions, labor support infrastructure, and post-merger market data. The paper proposes policy implications through 2030, with a vision toward 2035, focusing on establishing labor forecasting and data systems, demand-driven skills training, employment service innovation, upgrading job quality, and aligning labor policies with transportation, housing, and social service planning. The findings emphasize that scale advantages can only be translated into productivity and added value when supported by an integrated labor market capable of bridging supply and demand while creating career development opportunities for workers.
Keywords: labor market, human resources, employment, vocational skills, Ho Chi Minh City, policy implications
Đặt vấn đề
Việc hợp nhất Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1-7-2025, đã mở rộng đáng kể không gian phát triển kinh tế và thị trường lao động của Thành phố. Với diện tích 6.772,59 km² và quy mô dân số khoảng trên 14 triệu người, Thành phố Hồ Chí Minh mới có điều kiện tăng cường liên kết giữa các trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ, công nghiệp chế biến, chế tạo, cảng biển, logistics, năng lượng và du lịch. Sự kết hợp giữa các không gian kinh tế có chức năng khác nhau mở ra khả năng tái phân bổ nguồn nhân lực, mở rộng cơ hội việc làm và hình thành các chuỗi liên kết sản xuất, dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn.
Trong bối cảnh Việt Nam chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, thị trường lao động giữ vai trò quan trọng trong kết nối nguồn nhân lực với nhu cầu phát triển kinh tế. Đối với Thành phố Hồ Chí Minh sau hợp nhất, việc chuyển hóa lợi thế về quy mô kinh tế và hệ sinh thái doanh nghiệp thành năng suất lao động, giá trị gia tăng phụ thuộc không chỉ vào số lượng lao động mà còn vào chất lượng kỹ năng, cơ cấu việc làm và hiệu quả kết nối cung - cầu. Năm 2025, Thành phố có khoảng 7,49 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc, với tỷ lệ thất nghiệp 2,35%; nhu cầu nhân lực giai đoạn 2025-2030 được dự báo ở mức 800.000 đến hơn 1 triệu lao động, trong đó khoảng 70% thuộc nhóm ngành dịch vụ và công nghiệp công nghệ cao. Những số liệu này cho thấy quy mô thị trường lớn và nhu cầu nhân lực đáng kể, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, dự báo và phân bổ lao động phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Tuy nhiên, quy mô lao động lớn và tỷ lệ thất nghiệp thấp chưa đồng nghĩa với việc cung - cầu lao động được kết nối hiệu quả. Những vấn đề đặt ra bao gồm sự chưa tương thích giữa kỹ năng của người lao động với yêu cầu tuyển dụng, chất lượng và tính ổn định của việc làm, chênh lệch khả năng tiếp cận cơ hội việc làm giữa các khu vực, cùng những hạn chế về dữ liệu và dự báo nhân lực. Bên cạnh đó, giao thông, nhà ở và dịch vụ xã hội cũng ảnh hưởng đến khả năng dịch chuyển lao động trong không gian phát triển mới. Việc hợp nhất địa giới hành chính mới tạo ra điều kiện mở rộng thị trường; khả năng hình thành một thị trường lao động liên thông và vận hành hiệu quả còn phụ thuộc vào mức độ kết nối giữa hạ tầng, dịch vụ việc làm, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Đây là những vấn đề cần được làm rõ để xác định định hướng và hàm ý chính sách phát triển thị trường lao động Thành phố đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035.
Từ yêu cầu thực tiễn, bài viết phân tích thực trạng, nhận diện những lợi thế và điểm nghẽn của thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh sau hợp nhất, tập trung vào kết nối cung - cầu, phát triển kỹ năng và phân bổ nguồn nhân lực, từ đó đề xuất hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả vận hành thị trường lao động đến năm 2030, tầm nhìn năm 2035. Đồng thời, qua đó, bài viết làm rõ điều kiện chuyển hóa lợi thế về quy mô kinh tế và lao động thành năng suất, chất lượng việc làm và năng lực cạnh tranh của Thành phố.
1. Thực trạng và những điểm nghẽn của thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh
1.1. Quy mô và cơ cấu nhu cầu lao động tăng nhanh, trong khi yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao
Thành phố Hồ Chí Minh có quy mô dân số và lực lượng lao động lớn, đồng thời giữ vai trò trung tâm kinh tế, dịch vụ và công nghiệp của cả nước. Theo số liệu thống kê năm 2025, sau sắp xếp đơn vị hành chính, Thành phố có khoảng 7,49 triệu người từ 15 tuổi trở lên đang làm việc, tăng 2,9% so với năm trước; tỷ lệ thất nghiệp là 2,35%. Các chỉ tiêu này cho thấy thị trường lao động Thành phố có quy mô lớn và khả năng hấp thụ lao động đáng kể. Tuy nhiên, số người đang làm việc và tỷ lệ thất nghiệp chưa phản ánh đầy đủ mức độ phù hợp giữa kỹ năng của người lao động với yêu cầu của doanh nghiệp, cũng như chất lượng và tính ổn định của việc làm.
Diễn biến kinh tế trong năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy nhu cầu phát triển nguồn nhân lực cần được xem xét trong bối cảnh các ngành kinh tế tiếp tục mở rộng và chuyển dịch. Năm 2025, GRDP Thành phố tăng 7,53%; khu vực dịch vụ tăng 8,76%, công nghiệp và xây dựng tăng 6,14%. Trong 6 tháng đầu năm 2026, GRDP tăng 8,55% so với cùng kỳ năm trước, còn chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,1%. Các chỉ tiêu này phản ánh mức tăng trưởng và hoạt động sản xuất, kinh doanh; tự thân chúng không đo trực tiếp số việc làm mới hoặc mức tăng nhu cầu tuyển dụng. Dẫu vậy, khi đặt trong tương quan với cơ cấu kinh tế và dự báo nhân lực, chúng cho thấy yêu cầu mở rộng nguồn cung lao động có kỹ năng phù hợp với các ngành đang phát triển.
Cơ cấu kinh tế năm 2025 cho thấy khu vực dịch vụ chiếm khoảng 52,2% GRDP Thành phố; công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng 35,2%; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm khoảng 1,7%. Trong cùng năm, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,9%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,9%; bốn ngành công nghiệp trọng điểm tăng 12,9%. Những số liệu này cho thấy dịch vụ và công nghiệp tiếp tục giữ vai trò chủ yếu trong cơ cấu kinh tế, đồng thời hoạt động công nghiệp có mức tăng đáng kể. Do tỷ trọng cơ cấu năm 2025 và tốc độ tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2026 là các chỉ tiêu khác nhau về nội dung và thời kỳ đo lường, chúng được sử dụng để mô tả hai khía cạnh bổ sung của nền kinh tế, không dùng để so sánh trực tiếp mức tăng giữa các ngành.
Theo dự báo nhu cầu nguồn nhân lực của Thành phố, giai đoạn 2025-2030, nhu cầu tuyển dụng có thể đạt khoảng 800.000 đến hơn 1 triệu lao động; khoảng 70% nhu cầu dự kiến thuộc khu vực dịch vụ và công nghiệp công nghệ cao. Đây là dự báo cho cả giai đoạn, không phải số việc làm đã phát sinh hay nhu cầu tuyển dụng riêng trong năm 2025 hoặc 6 tháng đầu năm 2026. Đặt cạnh cơ cấu kinh tế và diễn biến sản xuất, dự báo này cho thấy nhu cầu lao động của Thành phố không chỉ tăng về quy mô mà còn tập trung ngày càng nhiều vào các lĩnh vực đòi hỏi trình độ chuyên môn, kỹ năng số và khả năng làm việc trong môi trường công nghệ.
Vì vậy, vấn đề trọng tâm của thị trường lao động Thành phố là bảo đảm nguồn cung lao động đáp ứng đồng thời nhu cầu tuyển dụng hiện tại và sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong trung hạn. Nếu quy mô và cơ cấu đào tạo, đào tạo lại không theo kịp yêu cầu tuyển dụng, tình trạng thiếu hụt lao động phù hợp có thể xảy ra ở một số ngành, nghề, ngay cả khi lực lượng lao động và số người có việc làm của Thành phố ở mức lớn. Điều này đặt ra yêu cầu tăng cường kết nối giữa dự báo nhu cầu nhân lực, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, đồng thời phát triển kỹ năng chuyên môn, kỹ năng số và năng lực thích ứng của người lao động.
1.2. Mất cân đối cung - cầu lao động và chất lượng việc làm
Thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh cần được đánh giá đồng thời trên hai phương diện: mức độ đáp ứng nhu cầu tuyển dụng và khả năng tiếp cận việc làm phù hợp, ổn định của người lao động. Mất cân đối cung - cầu có thể phát sinh khi số lao động sẵn sàng làm việc không đáp ứng nhu cầu tuyển dụng, khi ngành nghề, trình độ, kỹ năng hoặc kinh nghiệm của người tìm việc không phù hợp với yêu cầu công việc, hoặc khi tiền lương, địa điểm và điều kiện làm việc khiến cung và cầu khó gặp nhau. Vì vậy, doanh nghiệp khó tuyển người ở một số vị trí có thể cùng tồn tại với tình trạng người lao động khó tìm được việc làm tương xứng với năng lực và chuyên môn.
Trên thực tế, mức độ phù hợp giữa đào tạo và việc làm không thể xác định chỉ bằng số người có bằng cấp hoặc chứng chỉ. Cần xem xét người lao động có làm việc đúng hoặc gần với chuyên môn được đào tạo hay không, kỹ năng thực tế có đáp ứng yêu cầu công việc không, và việc làm có bảo đảm thu nhập, tính ổn định, điều kiện lao động và cơ hội phát triển nghề nghiệp hay không. Tương tự, tỷ lệ thất nghiệp chung không chỉ ra những ngành nghề nào khó tuyển, nhóm lao động nào khó tìm việc, hoặc nguyên nhân khiến vị trí tuyển dụng chưa được lấp đầy.
Chất lượng việc làm cũng là một khía cạnh của sự vận hành cung - cầu lao động. Có việc làm chưa đồng nghĩa với việc làm ổn định và bảo đảm: thu nhập có thể thiếu ổn định, công việc có thể không tương xứng với trình độ và kỹ năng, hoặc người lao động chưa được tiếp cận đầy đủ các chế độ bảo hiểm và an sinh. Những hạn chế này ảnh hưởng đến khả năng duy trì sinh kế, tích lũy kỹ năng và thích ứng khi doanh nghiệp thay đổi công nghệ hoặc cơ cấu sản xuất. Đối với thanh niên và người mới tốt nghiệp, thời gian chuyển tiếp từ đào tạo sang việc làm, cơ hội tích lũy kinh nghiệm thực tế và mức độ phù hợp của công việc đầu tiên với chuyên môn là những vấn đề cần được xem xét.
Do vậy, điểm nghẽn cốt lõi của thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh có thể dễ nhận thấy nhất là sự kết nối chưa đầy đủ giữa nhu cầu tuyển dụng, đào tạo và khả năng tiếp cận việc làm phù hợp của người lao động. Khi thông tin về vị trí tuyển dụng, yêu cầu kỹ năng, tiền lương và điều kiện làm việc chưa được liên thông với dữ liệu về trình độ, kỹ năng và nguyện vọng của người tìm việc, doanh nghiệp khó tuyển đúng người, còn người lao động khó tiếp cận công việc phù hợp. Hệ quả là mất cân đối có thể đồng thời xuất hiện dưới dạng doanh nghiệp thiếu người đáp ứng yêu cầu và người lao động chưa tìm được việc làm tương xứng. Điểm nghẽn này còn làm giảm khả năng điều chỉnh chương trình đào tạo theo tín hiệu thực tế của thị trường và hạn chế việc hỗ trợ người lao động chuyển đổi nghề khi cơ cấu việc làm thay đổi.
Để nhận diện chính xác mức độ và nguyên nhân của điểm nghẽn, vấn đề đặt ra là cần có dữ liệu được cập nhật và phân tổ theo ngành, nghề, trình độ, kỹ năng, nhóm tuổi và địa bàn. Các chỉ tiêu cần thiết gồm số vị trí tuyển dụng và số ứng viên đáp ứng yêu cầu; thời gian tuyển dụng và tỷ lệ vị trí chưa được lấp đầy; yêu cầu về chuyên môn, kỹ năng và kinh nghiệm; mức lương và địa điểm làm việc; mức độ phù hợp giữa chuyên môn đào tạo với công việc; thu nhập, tính ổn định và mức độ tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp. Đối chiếu dữ liệu từ doanh nghiệp, người tìm việc, cơ sở đào tạo và cơ quan bảo hiểm sẽ giúp phân biệt thiếu hụt lao động về số lượng với thiếu hụt kỹ năng phù hợp, đồng thời xác định nhóm lao động và địa bàn cần ưu tiên hỗ trợ giải quyết việc làm.
Từ thực trạng đó, yêu cầu đặt ra là củng cố liên kết giữa dự báo nhu cầu nhân lực, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và dịch vụ việc làm; điều chỉnh nội dung đào tạo theo yêu cầu công việc; mở rộng đào tạo lại, bồi dưỡng kỹ năng và cơ hội tích lũy kinh nghiệm; đồng thời cải thiện khả năng tiếp cận việc làm ổn định và an sinh xã hội. Đây là hướng xử lý trực tiếp điểm nghẽn kết nối cung - cầu, qua đó giúp Thành phố vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực của nền kinh tế, vừa nâng cao chất lượng và tính bao trùm của thị trường lao động.
1.3. Thách thức về kết nối không gian lao động, nhà ở công nhân và dữ liệu sau sắp xếp đơn vị hành chính
Sau khi hợp nhất, Thành phố Hồ Chí Minh có không gian phát triển kinh tế và thị trường lao động được mở rộng. Quy mô lớn hơn tạo điều kiện kết nối các trung tâm công nghiệp, dịch vụ, logistics, cảng biển và các khu vực đô thị. Đồng thời, việc mở rộng địa giới làm tăng yêu cầu điều phối giữa nơi cư trú, nơi làm việc, hệ thống giao thông, nhà ở và dịch vụ công dành cho người lao động.
![]()
Nếu kết nối giao thông và nhà ở chưa theo kịp sự phân bố của các khu công nghiệp, khu dịch vụ và trung tâm việc làm, người lao động có thể phải chịu chi phí đi lại cao, thời gian di chuyển kéo dài và khó tiếp cận các cơ hội việc làm phù hợp. Điều này có thể làm giảm hiệu quả kết nối cung - cầu, đặc biệt đối với lao động thu nhập thấp, lao động nhập cư và lao động làm việc theo ca.
Một yêu cầu khác là xây dựng hệ thống dữ liệu lao động thống nhất, có khả năng phân tổ theo địa bàn, ngành nghề, nhóm tuổi, trình độ, kỹ năng và tình trạng việc làm. Khi phạm vi địa giới và quy mô thị trường thay đổi, dữ liệu theo địa bàn cũ có thể không còn đủ để mô tả đầy đủ cấu trúc thị trường mới. Vì vậy, việc cập nhật phương pháp thống kê, chuẩn hóa dữ liệu hành chính và kết nối thông tin từ doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, cơ quan bảo hiểm và trung tâm dịch vụ việc làm sẽ hỗ trợ tốt hơn cho dự báo và hoạch định chính sách.
Từ các phân tích trên, có thể khái quát ba nhóm vấn đề lớn của thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh: nhu cầu nhân lực tăng và chuyển dịch theo hướng đòi hỏi kỹ năng cao hơn; mức độ phù hợp giữa đào tạo với yêu cầu việc làm còn cần được cải thiện; và chất lượng, tính ổn định, khả năng tiếp cận việc làm còn khác biệt giữa các nhóm lao động và địa bàn. Đây là cơ sở để xây dựng các giải pháp phát triển nguồn nhân lực gắn với thị trường lao động hiện đại, hội nhập, phục vụ mục tiêu phát triển Thành phố đến năm 2035 và mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn đến năm 2030.
2. Định hướng và hàm ý chính sách phát triển thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035
2.1. Hoàn thiện hệ thống thông tin, dự báo và dịch vụ việc làm
Trong giai đoạn tới, Thành phố Hồ Chí Minh cần xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động thống nhất, kết nối dữ liệu từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và tổ chức dịch vụ việc làm. Hệ thống cần cung cấp thông tin thường xuyên về nhu cầu tuyển dụng, vị trí khó tuyển, yêu cầu kỹ năng, mức lương, điều kiện làm việc, kết quả đào tạo và tình hình dịch chuyển lao động theo ngành nghề, địa bàn.
Hoạt động dự báo cần được thực hiện theo các kịch bản phát triển kinh tế, đầu tư và chuyển dịch cơ cấu ngành, thay vì chỉ dựa vào một chỉ tiêu tổng hợp về nhu cầu nhân lực. Kết quả dự báo phải được sử dụng trực tiếp trong hoạch định chính sách đào tạo, tư vấn nghề nghiệp và kết nối cung - cầu lao động.
Trên cơ sở dữ liệu dùng chung, Thành phố cần tổ chức lại hệ thống dịch vụ việc làm theo không gian phát triển mới, kết hợp nền tảng số với các điểm hỗ trợ trực tiếp tại khu công nghiệp, trung tâm logistics, khu dân cư tập trung đông lao động và cơ sở đào tạo. Các dịch vụ tư vấn nghề nghiệp, đánh giá kỹ năng, giới thiệu việc làm và đào tạo lại cần được kết nối thành một quy trình liên tục, giúp người lao động không chỉ tìm được việc làm mà còn có khả năng thích ứng khi chuyển đổi nghề nghiệp.
2.2. Đổi mới đào tạo theo nhu cầu kỹ năng và yêu cầu phát triển các ngành kinh tế chiến lược
Thành phố cần tăng cường sự tham gia thực chất của doanh nghiệp trong xây dựng chuẩn đầu ra, tổ chức thực hành, thực tập và đánh giá kỹ năng nghề. Chính sách hỗ trợ đào tạo nên gắn với kết quả đầu ra, như tỷ lệ học viên có việc làm sau đào tạo, mức độ phù hợp giữa nghề được đào tạo và công việc thực tế, cũng như khả năng duy trì việc làm.
Bên cạnh chương trình đào tạo dài hạn, cần mở rộng các khóa học mô-đun ngắn hạn và chứng chỉ tích lũy, tạo điều kiện cho người đang làm việc, người cần chuyển nghề và lao động bị ảnh hưởng bởi thay đổi công nghệ tiếp tục học tập, nâng cao kỹ năng. Cách tiếp cận này giúp rút ngắn khoảng cách giữa tốc độ thay đổi của thị trường lao động và khả năng thích ứng của hệ thống đào tạo.
Việc phát triển kỹ năng cần gắn với nhu cầu của các ngành có vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế Thành phố, như công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, an ninh mạng, tự động hóa, công nghiệp chế biến, chế tạo, điện tử, cơ khí, công nghiệp hỗ trợ, logistics, cảng biển, tài chính và các dịch vụ chuyên môn. Đồng thời, các kỹ năng nền tảng như ngoại ngữ, kỹ năng số, giao tiếp, giải quyết vấn đề và an toàn lao động cần được chú trọng để nâng cao khả năng dịch chuyển nghề nghiệp và thích ứng với công nghệ mới.
2.3. Nâng cao chất lượng việc làm và mở rộng khả năng tiếp cận an sinh xã hội
Phát triển thị trường lao động không chỉ nhằm gia tăng số lượng việc làm mà còn phải cải thiện tính ổn định, chất lượng và khả năng bảo vệ người lao động. Thành phố cần thúc đẩy chuyển dịch việc làm sang khu vực chính thức, mở rộng khả năng tiếp cận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và các cơ chế bảo vệ phù hợp với đặc điểm của lao động thời vụ, lao động nền tảng và lao động trong hộ kinh doanh.
Đối với thanh niên, người mới tốt nghiệp và người cần chuyển đổi nghề nghiệp, cần tăng cường kết nối giữa đào tạo với thực tập, tuyển dụng và hướng nghiệp. Các chương trình hỗ trợ cần chú trọng khả năng tiếp cận việc làm thực tế, thay vì chỉ dừng ở cung cấp thông tin tuyển dụng hoặc tổ chức các khóa đào tạo riêng lẻ.
Nâng cao chất lượng việc làm còn có ý nghĩa trực tiếp đối với năng suất lao động. Việc làm ổn định tạo điều kiện để người lao động tích lũy kinh nghiệm, tiếp tục đầu tư vào kỹ năng và nâng cao năng lực chuyên môn; đồng thời giúp doanh nghiệp duy trì nguồn nhân lực, cải thiện chất lượng sản phẩm và nâng cao sức cạnh tranh. Vì vậy, chính sách việc làm cần gắn với cải thiện điều kiện làm việc, thúc đẩy đối thoại và tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp lâu dài.
2.4. Gắn phát triển thị trường lao động với quy hoạch đô thị và điều kiện sống
Trong không gian phát triển mở rộng, Thành phố cần tăng cường phối hợp giữa quy hoạch việc làm với phát triển giao thông công cộng, nhà ở cho người lao động và các dịch vụ xã hội thiết yếu. Các khu công nghiệp, trung tâm logistics và khu vực tập trung nhiều việc làm cần được kết nối thuận tiện với nơi cư trú và các đầu mối giao thông.
Khả năng tiếp cận việc làm phụ thuộc không chỉ vào trình độ và kỹ năng mà còn vào thời gian, chi phí đi lại và điều kiện sinh sống. Do đó, phát triển nhà ở phù hợp với khả năng chi trả, giao thông thuận tiện, trường học, dịch vụ y tế và chăm sóc trẻ em cần được xem là những yếu tố hỗ trợ trực tiếp cho sự vận hành của thị trường lao động.
Cách tiếp cận này giúp mở rộng phạm vi tìm kiếm việc làm của người lao động, tăng khả năng tiếp cận nguồn nhân lực của doanh nghiệp và hạn chế tình trạng cơ hội việc làm tập trung tại một số khu vực trong khi người lao động khó tiếp cận do rào cản không gian và chi phí sinh hoạt.
2.5. Thu hút chuyên gia gắn với chuyển giao tri thức và phát triển nhân lực tại chỗ
Thành phố cần tiếp tục thu hút chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư và nhà quản trị có trình độ cao trong các lĩnh vực chiến lược. Tuy nhiên, chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao không nên chỉ tập trung vào số lượng chuyên gia được tuyển dụng mà cần hướng đến khả năng tạo lập năng lực chuyên môn lâu dài trong doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và tổ chức nghiên cứu.
Theo đó, việc thu hút chuyên gia cần gắn với hình thành nhóm nghiên cứu, nhóm kỹ thuật, chương trình hợp tác đào tạo và cơ chế chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản trị. Hiệu quả chính sách cần được xem xét thông qua những đóng góp chuyên môn, kỹ năng được chuyển giao và năng lực nhân lực tại chỗ được hình thành.
Định hướng này góp phần nâng cao khả năng tiếp nhận công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo điều kiện để nguồn nhân lực của Thành phố tham gia sâu hơn vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh có giá trị gia tăng cao.
2.6. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phát triển thị trường lao động
Để bảo đảm các chính sách được triển khai thực chất, Thành phố cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá gắn với kết quả việc làm và chất lượng tăng trưởng, thay vì chỉ dựa vào số lượng người được đào tạo hoặc số việc làm được tạo ra. Các chỉ tiêu trọng tâm cần phản ánh năng suất lao động, thu nhập, mức độ chính thức của việc làm, khả năng tiếp cận an sinh xã hội, tỷ lệ có việc làm sau đào tạo, mức độ phù hợp giữa kỹ năng và công việc, thời gian tìm việc và hiệu quả tuyển dụng tại các vị trí khó tuyển.
Việc đánh giá cũng cần xem xét mức độ tham gia của doanh nghiệp vào đào tạo, thực tập và đánh giá kỹ năng; khả năng tiếp cận việc làm giữa các địa bàn; cũng như hiệu quả của các chương trình đào tạo lại và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp. Các chỉ tiêu cần được phân tổ theo độ tuổi, giới tính, trình độ, ngành nghề và địa bàn để nhận diện sự khác biệt về cơ hội việc làm và nguy cơ bị loại trừ khỏi quá trình chuyển đổi kinh tế.
Giai đoạn đến năm 2030 cần ưu tiên hoàn thiện dữ liệu, nâng cao năng lực dự báo và cải thiện khả năng kết nối cung - cầu lao động. Tầm nhìn đến năm 2035, Thành phố cần hướng tới một thị trường lao động vận hành trên cơ sở dữ liệu tin cậy, kỹ năng đáp ứng nhu cầu phát triển, việc làm có chất lượng và khả năng thích ứng cao trước những biến đổi của công nghệ, cơ cấu kinh tế và không gian đô thị. Hệ thống đánh giá cần được cập nhật định kỳ để kịp thời điều chỉnh chính sách và bảo đảm các mục tiêu phát triển nhân lực gắn với kết quả kinh tế - xã hội thực tế.
Thành phố Hồ Chí Minh sau hợp nhất có quy mô lớn, cơ cấu kinh tế đa dạng và khả năng kết nối giữa dịch vụ, công nghiệp, cảng biển, logistics và công nghệ. Những lợi thế này tạo cơ hội để hình thành một thị trường lao động rộng và chuyên môn hóa hơn. Nhưng để biến quy mô thành năng suất, Thành phố cần xử lý đồng thời các vấn đề về kỹ năng, chất lượng việc làm, dữ liệu, kết nối địa bàn và điều kiện sống của người lao động.
Mục tiêu phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2035 vì vậy cần đặt trọng tâm vào việc nâng năng suất lao động thông qua kỹ năng và công nghệ, kết nối đào tạo với nhu cầu thực tế, bảo đảm người lao động có thể tiếp cận việc làm trên toàn không gian Thành phố và nâng chất lượng, tính ổn định của việc làm. Thành công không chỉ được đo bằng số lao động được đào tạo hoặc số việc làm được công bố, mà bằng việc người lao động có thể làm công việc phù hợp, tạo ra giá trị cao hơn và cải thiện bền vững đời sống của mình đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Thành phố trong dài hạn.
1. Báo Chính phủ: TPHCM cần khoảng 1 triệu lao động mới trong 5 năm tới. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. https://tphcm.chinhphu.vn/tphcm-can-khoang-1-trieu-lao-dong-moi-trong-5-nam-toi-10125111015311314.htm
2. Cục Thống kê. (2026). Số liệu thống kê về tình hình kinh tế - xã hội Thành phố Hồ Chí Minh năm 2025. Hệ thống thông tin Thống kê khoa học và công nghệ. https://thongke.cesti.gov.vn/phan-tich-thong-ke/ket-qua-thong-ke/1485-so-lieu-thong-ke-ve-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-tphcm-2025;
3. Cục Thống kê. (2026). Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2025/
4. Cục Thống kê. (2026). Thị trường lao động, việc làm của Việt Nam năm 2025: Những điểm sáng và hạn chế. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/01/thi-truong-lao-dong-viec-lam-cua-viet-nam-nam-2025-nhung-diem-sang-va-han-che/
5. Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. (2025). Nghị quyết số 486/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2025 về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. https://qhkt.hochiminhcity.gov.vn/Uploads/Document/Legislation/NQ%20486.NQ-HDND_10.12.2025.pdf
6. Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2025). Danh mục ấn phẩm thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. https://thongkehochiminh.nso.gov.vn/Blog/AnPhamThongKe?page=2
TS Phạm Anh Thắng - Phó Chánh Văn phòng Bộ Nội vụ
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả