Từ khóa: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc pháp quyền; quản trị địa phương; chính quyền địa phương; quản lý nhà nước.
Abstract: Building the Socialist Rule of Law State of Viet Nam is one of the strategic orientations throughout the country's Doi Moi (renewal) process. In this process, local government plays a particularly crucial role as the administrative tier directly organizing the implementation of the Party's guidelines as well as the State's policies and laws. Concurrently, it serves as the institutional apparatus closest to the people, directly reflecting the efficacy of national governance. Ensuring the rule of law principle in the organization and operation of local governments not only contributes to enhancing the effectiveness and efficiency of state management, but also lays a firm foundation for safeguarding human rights and citizens' rights, while fostering democracy and sustainable development.
Keywords: Socialist rule of law state; rule of law principle; local governance; local government; state management.
![]()
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng, chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng quản trị công, nguyên tắc pháp quyền đã trở thành tiêu chí quan trọng hàng đầu để đánh giá năng lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Đối với Việt Nam, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển đất nước mà còn là định hướng chính trị được khẳng định nhất quán trong các văn kiện của Đảng qua nhiều kỳ Đại hội. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã đặt ra mục tiêu đến năm 2030 hoàn thiện cơ bản các thể chế về tổ chức, hoạt động và kiểm soát quyền lực nhà nước, xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ Nhân dân, chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả.
Hiệu quả của Nhà nước pháp quyền không chỉ thể hiện ở việc ban hành hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ mà còn phụ thuộc vào khả năng tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội. Chính quyền địa phương đóng vai trò trung tâm trong quá trình đó, bởi đây là cấp chính quyền trực tiếp tiếp xúc với người dân, doanh nghiệp và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện phần lớn các chính sách công trên thực tế. Những năm gần đây, cùng với quá trình cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền và đổi mới mô hình tổ chức, nhiều địa phương đã phát huy tính chủ động, sáng tạo trong quản lý và điều hành phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả tích cực, vẫn còn tồn tại không ít hạn chế như tình trạng chồng chéo thẩm quyền, thiếu minh bạch trong thực thi công vụ, năng lực giải trình còn yếu, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa thật sự hiệu quả.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống các yêu cầu, nội dung và điều kiện bảo đảm thực hiện nguyên tắc pháp quyền trong quản trị chính quyền địa phương có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn – là cơ sở để hoàn thiện thể chế quản trị địa phương, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
2. Cơ sở lý luận về nguyên tắc pháp quyền trong quản trị chính quyền địa phương
Nguyên tắc pháp quyền là nguyên tắc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm mọi chủ thể trong xã hội – kể cả bản thân Nhà nước - đều phải tuân thủ pháp luật và chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Chính quyền địa phương là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, được tổ chức ở các đơn vị hành chính nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn lãnh thổ nhất định. Với vị trí gần dân nhất, chính quyền địa phương giữ vai trò cầu nối giữa Nhà nước và xã hội, giữa chính sách công và quá trình triển khai trong thực tiễn. Khác với các cơ quan trung ương chủ yếu hoạch định chính sách và quản lý vĩ mô, chính quyền địa phương trực tiếp tổ chức thực hiện pháp luật, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm trật tự xã hội và giải quyết các nhu cầu thiết yếu hằng ngày của người dân. Chất lượng hoạt động của cấp chính quyền này ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước.
Trong quản trị địa phương, nguyên tắc pháp quyền được thể hiện ở các nội dung cốt lõi sau: (1) Mọi hoạt động của chính quyền phải dựa trên Hiến pháp và pháp luật, các quyết định quản lý chỉ có giá trị khi được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự; (2) Quyền lực phải được kiểm soát bằng cơ chế pháp lý hiệu quả nhằm ngăn ngừa lạm quyền; (3) Bảo đảm tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ; (4) Bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong quá trình quản lý nhà nước; (5) Mọi hành vi vi phạm pháp luật phải được phát hiện, xử lý kịp thời thông qua cơ chế giám sát, thanh tra, kiểm tra và tài phán độc lập. Tại khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã khẳng định: "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp".
Việc bảo đảm nguyên tắc pháp quyền mang lại nhiều giá trị: góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; tạo môi trường ổn định, minh bạch cho phát triển kinh tế – xã hội và thu hút đầu tư; bảo vệ quyền con người, tăng cường dân chủ, hạn chế tham nhũng, lãng phí. Báo cáo "Việt Nam 2035 – hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ" do Chính phủ Việt Nam phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB) thực hiện năm 2017 đã nhấn mạnh: hoàn thiện thể chế pháp quyền chính là điều kiện tiên quyết để nâng cao năng lực quản trị quốc gia, xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch và bảo đảm công bằng xã hội.
3. Thực trạng thực hiện nguyên tắc pháp quyền trong quản trị chính quyền địa phương
3.1. Những kết quả đạt được
Một là, hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương từng bước được hoàn thiện. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 và các văn bản sửa đổi, bổ sung đã tạo lập cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ cho việc xác định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền địa phương hai cấp. Việc hoàn thiện thể chế đã làm rõ hơn mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và địa phương, tạo điều kiện để các địa phương phát huy tính chủ động, phản ánh xu hướng chuyển từ mô hình quản lý hành chính tập trung sang mô hình quản trị hiện đại, đề cao tính tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình. Cụ thể, Luật Đầu tư công (sửa đổi) đã tăng cường phân quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quyết định chủ trương đầu tư đối với nhiều dự án nhóm B và nhóm C, rút ngắn thời gian phê duyệt. Luật Đất đai sửa đổi đã trao thêm thẩm quyền cho chính quyền cấp tỉnh và cấp huyện trong quy hoạch, thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ tái định cư. Mô hình "một cửa" và "một cửa liên thông" được triển khai đồng bộ tại các địa phương trên cả nước đã góp phần nâng cao tính minh bạch, giảm thời gian giải quyết thủ tục cho người dân và doanh nghiệp. Việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4 tại nhiều tỉnh, thành phố đã tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ công.
Hai là, hiệu quả quản trị địa phương từng bước được nâng cao. Nguyên tắc pháp quyền đã tạo động lực thúc đẩy cải cách hành chính, đổi mới phương thức quản lý và nâng cao chất lượng phục vụ. Theo Báo cáo của Bộ Nội vụ, Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2024 đạt trung bình 82,19% trên phạm vi cả nước, tăng so với mức 80,57% của năm 2023. Trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, đến cuối năm 2025 đã tích hợp trên 4.400 dịch vụ công trực tuyến, xử lý hàng trăm triệu hồ sơ. Tại Hà Nội, tỷ lệ giải quyết hồ sơ trực tuyến từ mức 55,5% vào đầu tháng 7-2025 đã vươn lên 98,5% chỉ sau ba tháng, cho thấy hoạt động tiếp nhận hồ sơ ngày càng phù hợp với mô hình chính quyền hai cấp. Tại Quảng Ninh, việc đi đầu xây dựng chính quyền điện tử và triển khai mô hình "chính quyền phục vụ" đã giúp địa phương nhiều năm dẫn đầu cả nước về chỉ số cải cách hành chính (PAR Index) và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); tính đến tháng 6/2025, toàn tỉnh đã ban hành khoảng 40 quyết định, 43 kế hoạch và gần 600 văn bản chỉ đạo liên quan đến chuyển đổi số. Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin đã góp phần nâng cao tính minh bạch, giảm thời gian xử lý hồ sơ, tiết kiệm chi phí cho người dân và doanh nghiệp; đồng thời, việc công khai quy trình, thủ tục, thời hạn giải quyết và trách nhiệm của từng cơ quan, cá nhân đã hạn chế đáng kể tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà trong thực thi công vụ. Tại các địa phương thực hiện sáp nhập đơn vị hành chính gần đây như Hà Nam, Thái Nguyên, Bắc Ninh, bộ máy sau sáp nhập đã nhanh chóng ổn định, không gián đoạn cung ứng dịch vụ công, thể hiện năng lực thích ứng và hiệu quả quản trị ngày càng được nâng cao.
Ba là, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình ngày càng được chú trọng. Việc công khai quy trình, thủ tục, thời hạn giải quyết và trách nhiệm từng cơ quan, cá nhân đã hạn chế tình trạng nhũng nhiễu. Nhiều địa phương lấy sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo chất lượng hoạt động, thể hiện chuyển biến từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ. Tại Quảng Ninh, hệ thống chính quyền điện tử và Trung tâm điều hành thông minh (IOC) được vận hành đồng bộ, cho phép công khai dữ liệu quản lý và xử lý phản ánh của người dân theo thời gian thực. Tại Đà Nẵng, cổng dịch vụ công trực tuyến tích hợp nhiều dữ liệu về quy hoạch đô thị, đầu tư công, giúp người dân dễ dàng tra cứu và giám sát. Tại TP. Hồ Chí Minh, Trung tâm điều hành đô thị thông minh cùng hệ thống 1022 tiếp nhận phản ánh đã tăng cường đối thoại giữa chính quyền và xã hội. Kết quả khảo sát Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2024 ghi nhận trụ cột "kiểm soát tham nhũng" và "công khai, minh bạch" tăng điểm ở hầu hết các tỉnh, thành phố.
Bốn là, cơ chế kiểm soát quyền lực từng bước được hoàn thiện. Hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát của cơ quan cấp trên, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội được tăng cường. Nhiều vụ việc vi phạm trong quản lý đất đai, đầu tư công, tài chính công đã được phát hiện, xử lý nghiêm minh. Tại Hà Nội, hoạt động thanh tra trách nhiệm công vụ gắn với cải cách hành chính được đẩy mạnh. Tại TP. Hồ Chí Minh, cơ chế giám sát xã hội qua Mặt trận Tổ quốc và hệ thống tiếp nhận phản ánh đã góp phần phát hiện sớm bất cập trong quản lý đô thị. Những kết quả đó củng cố niềm tin của người dân, khẳng định vai trò của pháp quyền trong bảo đảm tính hợp pháp và chính đáng của hoạt động công quyền.
3.2. Những hạn chế, bất cập
Mặc dù đã có nhiều bước hoàn thiện, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động của chính quyền địa phương vẫn tồn tại những điểm chưa thống nhất. Một số quy định về phân cấp, phân quyền chưa rõ ràng, dẫn đến chồng chéo trách nhiệm giữa các cấp chính quyền. Trong nhiều trường hợp, địa phương gặp khó khăn khi triển khai nhiệm vụ do thiếu hướng dẫn cụ thể hoặc do các văn bản pháp luật chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến tính chủ động và hiệu quả thực thi chính sách công.
Năng lực chuyên môn, ý thức pháp luật và kỹ năng quản trị của một bộ phận cán bộ, công chức cấp cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu; tình trạng vi phạm quy trình, thủ tục hoặc xử lý công việc chưa đúng quy định pháp luật vẫn xảy ra, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Đặc biệt trong lĩnh vực đất đai – lĩnh vực nhạy cảm, có giá trị kinh tế lớn - đã ghi nhận những vụ việc vi phạm nghiêm trọng liên quan đến giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, định giá đất không đúng quy định, dẫn đến thất thoát ngân sách và khiếu kiện kéo dài. Các kết luận thanh tra, kiểm tra của cơ quan Trung ương đối với một số dự án bất động sản, khu đô thị, khu công nghiệp cho thấy nguy cơ lợi dụng kẽ hở pháp luật hoặc thiếu minh bạch trong quy trình ra quyết định hành chính. Việc ban hành quyết định hành chính chưa bảo đảm đầy đủ căn cứ pháp lý hoặc chưa đánh giá toàn diện tác động kinh tế – xã hội không chỉ dẫn đến tranh chấp hành chính, khiếu nại, tố cáo kéo dài mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư, kinh doanh và niềm tin của xã hội đối với chính quyền. Thực trạng trên cho thấy, việc bảo đảm nguyên tắc pháp quyền phụ thuộc rất lớn vào chất lượng thực thi pháp luật và trách nhiệm cá nhân của đội ngũ cán bộ, công chức.
Sự tham gia của người dân vào quản trị địa phương ở nhiều nơi còn hạn chế. Người dân chủ yếu tham gia ở giai đoạn thực hiện hoặc phản ánh sau khi chính sách đã ban hành; cơ chế tham vấn cộng đồng trong xây dựng chính sách, quy hoạch còn mang tính hình thức ở một số nơi. Khả năng tiếp cận thông tin chưa đồng đều, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
4. Giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc pháp quyền trong quản trị chính quyền địa phương
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương. Cần làm rõ hơn các quy định về phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và địa phương theo hướng rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ cơ chế kiểm soát. Phân định nhiệm vụ giữa các cấp bảo đảm nguyên tắc cấp nào thực hiện hiệu quả hơn thì giao cho cấp đó, tránh giao nhiệm vụ mà không bảo đảm đủ nguồn lực. Pháp luật cần bổ sung cơ sở pháp lý cho phát triển chính quyền số, quản trị số; các lĩnh vực mới như dữ liệu công, trí tuệ nhân tạo, bảo vệ dữ liệu cá nhân cần được điều chỉnh bằng quy định phù hợp. Đồng thời tăng cường cơ chế kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản do chính quyền địa phương ban hành, kịp thời xử lý quy định trái pháp luật.
Hai là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại. Cần đổi mới công tác tuyển dụng, đánh giá cán bộ theo nguyên tắc cạnh tranh, công khai, minh bạch, dựa trên năng lực thực chất. Việc bổ nhiệm phải gắn với kết quả công việc và mức độ hài lòng của người dân. Đẩy mạnh đào tạo kiến thức pháp luật, kỹ năng quản trị công, kỹ năng số – trong đó năng lực ứng dụng công nghệ thông tin cần trở thành tiêu chí quan trọng đánh giá cán bộ. Xây dựng văn hóa công vụ dựa trên các giá trị liêm chính, trách nhiệm, phục vụ Nhân dân. Đẩy mạnh thực hiện Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung và Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29/9/2023 của Chính phủ; đồng thời xử lý nghiêm mọi hành vi tham nhũng, tiêu cực, lạm quyền.
Ba là, tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Phát huy vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp thông qua nâng cao chất lượng chất vấn, giám sát chuyên đề, tập trung vào lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực như quản lý đất đai, đầu tư công, tài chính công. Thông tin liên quan đến quy hoạch, ngân sách, tuyển dụng công chức phải được công bố đầy đủ, dễ tiếp cận. Trách nhiệm giải trình của người đứng đầu cần được tăng cường. Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhằm phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh mọi vi phạm.
Bốn là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản trị địa phương theo định hướng pháp quyền. Các địa phương cần phát triển chính quyền số trên cơ sở khai thác hiệu quả dữ liệu số; tập trung xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung, liên thông trên phạm vi toàn quốc, kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cổng Dịch vụ công quốc gia, hệ thống VNeID và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Thủ tục hành chính cần được số hóa toàn diện, bảo đảm người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến mà không cần tiếp xúc trực tiếp cơ quan hành chính – vừa nâng cao hiệu quả, vừa hạn chế tiêu cực. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn có thể hỗ trợ nâng cao năng lực dự báo, hoạch định chính sách, nhưng phải bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ quyền riêng tư.
Năm là, phát huy vai trò của người dân và xã hội trong giám sát hoạt động chính quyền. Cần thực hiện đầy đủ quy định về dân chủ ở cơ sở, bảo đảm quyền được biết, được bàn, được tham gia, được giám sát. Mở rộng hình thức tham vấn công chúng theo hai hướng: tham vấn đại trà qua hội nghị nhân dân, hội nghị cử tri, họp thôn/tổ dân phố, cổng thông tin điện tử; và tham vấn chuyên sâu qua hội thảo chuyên đề, tọa đàm, khảo sát xã hội học, phỏng vấn nhóm chịu tác động trực tiếp. Chính quyền cần chủ động lấy ý kiến Nhân dân với dự án đầu tư, quy hoạch, chính sách an sinh xã hội; tiếp thu, giải trình công khai, tránh hình thức. Phát huy giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, hiệp hội nghề nghiệp và cơ quan báo chí. Xây dựng nền tảng tương tác số giữa chính quyền với người dân.
Sáu là, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng gắn với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố định hướng chính trị, bảo đảm chính quyền địa phương vận hành đúng mục tiêu phát triển đất nước và phục vụ lợi ích Nhân dân. Sự lãnh đạo ấy cần được thực hiện qua chủ trương, đường lối và công tác kiểm tra, giám sát, đồng thời tôn trọng nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm mọi tổ chức và cá nhân đều hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng ở địa phương sẽ góp phần xây dựng bộ máy chính quyền trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, việc bảo đảm nguyên tắc pháp quyền trong quản trị chính quyền địa phương càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đây không chỉ là yêu cầu pháp lý mà còn là yêu cầu chính trị và phát triển - là cơ sở để xây dựng nền hành chính phục vụ, kiến tạo phát triển, liêm chính, hiện đại và lấy người dân làm trung tâm. Thực hiện hiệu quả nguyên tắc pháp quyền sẽ góp phần nâng cao năng lực quản trị quốc gia, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, tạo động lực quan trọng để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và hội nhập thành công trong kỷ nguyên mới./.
----------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
[1] Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế giới (WB) (2017). Việt Nam 2035 hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ. Hà Nội.
[2] Nguyễn Đăng Dung (2014). Nhà nước pháp quyền là tinh thần pháp luật hay là đúng quy trình? Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà Nội, Luật học, Tập 30, số 1, tr. 54-61.
[3] Đại học Quốc gia Hà Nội (2012). Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến (sách chuyên khảo). NXB Lao động - Xã hội.
[4] Nguyễn Minh Đoan (2015). Tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013. NXB Hồng Đức.
[5] Nguyễn Văn Động (chủ biên) (2017). Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
[6] Nguyễn Hồng Quang (2005). Tài phán hành chính một số nước trên thế giới. Tạp chí Luật học, số 01/2005.
--------------------------------------------
Nguồn dẫn trực tuyến:
1. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025): https://quochoi.vn
2. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của BCH TW Đảng khóa XIII: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn
3. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025: https://thuvienphapluat.vn
4. Luật Đầu tư công (sửa đổi): https://thuvienphapluat.vn
5. Luật Đất đai sửa đổi: https://thuvienphapluat.vn
6. Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn
7. Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29/9/2023 của Chính phủ: https://chinhphu.vn
8. Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index): https://moha.gov.vn
9. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI): https://pcivietnam.vn
10. Cổng Dịch vụ công quốc gia: https://dichvucong.gov.vn
11. Chuyển đổi số tỉnh Quảng Ninh: https://quangninh.gov.vn
12. Trung tâm Phục vụ hành chính công TP. Hà Nội: https://hanoi.gov.vn
13. Hệ thống 1022 TP. Hồ Chí Minh: https://hochiminhcity.gov.vn
14. Chỉ số PAPI: https://pfrv.papi.org.vn
15. Chỉ số SIPAS: https://moha.gov.vn
TS Vũ Thị Phương Mai, Trường Đại học Lao động - Xã hội
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả