Từ khóa: Cải cách hành chính; đầu tư trực tiếp nước ngoài; hỗ trợ doanh nghiệp; nghị quyết Trung ương; thành phố Hải Phòng; thực thi chính sách.
Abstract: This article analyzes how the central government’s development orientations have been translated into implementation measures and business support activities in industrial parks and economic zones under the Hai Phong Economic Zone Authority. Based on an analysis of policy documents and three administrative reports covering 2023-2025, the study focuses on five areas: translating policy directions into practice, administrative procedure reform, digital transformation, infrastructure development and investment promotion, and addressing business difficulties. The findings indicate progress in standardizing procedures, providing online public services, developing the eHeza platform, and preparing conditions for investment. However, differences in reporting periods and management scopes, together with the lack of direct data from businesses, limit the assessment of actual impacts. Accordingly, the article proposes establishing an implementation monitoring system based on service quality, processing time, and the effectiveness of inter-agency coordination.
Keywords: Administrative reform; foreign direct investment; business support; central resolutions; Hai Phong City; policy implementation.
![]()
Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng, Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 có ý nghĩa định hướng chiến lược quan trọng. Tuy nhiên, hiệu quả chính sách không chỉ phụ thuộc vào định hướng mà còn gắn liền với quá trình cụ thể hóa và tổ chức thực hiện, trong đó năng lực điều hành, phối hợp liên cơ quan và chất lượng hỗ trợ doanh nghiệp giữ vai trò then chốt.
Những năm gần đây, các khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT) đóng góp quan trọng vào thu hút đầu tư của thành phố Hải Phòng. Theo Báo cáo số 5716/BC-BQL, năm 2024, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thu hút vào các KCN, KKT ước đạt 4,2 tỷ USD, bằng 210% kế hoạch năm. Năm 2025, theo Báo cáo số 6643/BC-BQL, con số này ước đạt 3,5 tỷ USD, chiếm khoảng 94% tổng vốn FDI thu hút của thành phố. Kết quả đó đặt ra yêu cầu tiếp tục xem xét vai trò của cơ quan quản lý trong cải thiện môi trường đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp.
Tuy nhiên, quy mô vốn đầu tư không thể phản ánh đầy đủ hiệu quả thực thi chính sách, bởi hoạt động đầu tư còn chịu tác động của nhiều yếu tố thị trường, hạ tầng và thể chế. Do đó, cần xem xét quá trình phân công nhiệm vụ, bố trí nguồn lực, phối hợp thực hiện, cải cách thủ tục hành chính và giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp, đồng thời phân biệt kết quả được ghi nhận trong báo cáo hành chính với tác động thực tế của hoạt động quản lý nhà nước.
Trên cơ sở phân tích văn bản chính sách và đối chiếu các báo cáo hành chính giai đoạn 2023 - 2025, bài viết tập trung làm rõ quá trình cụ thể hóa chủ trương của Trung ương trong tổ chức thực hiện và hỗ trợ doanh nghiệp tại các KCN, KKT thuộc phạm vi quản lý của Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng. Qua đó, nghiên cứu đánh giá kết quả, nhận diện hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, tăng cường phối hợp liên cơ quan và cải thiện chất lượng hỗ trợ doanh nghiệp trong thời gian tới.
2. Một số vấn đề cơ bản về tổ chức thực hiện chính sách và hỗ trợ doanh nghiệp
Tổ chức thực hiện chính sách là quá trình chuyển hóa mục tiêu, định hướng và quyết định chính sách thành các hoạt động quản lý cụ thể nhằm đạt được kết quả dự kiến. Quá trình này bao gồm cụ thể hóa chủ trương, phân công trách nhiệm, bố trí nguồn lực, phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền, giám sát tiến độ và điều chỉnh phương thức thực hiện khi phát sinh vấn đề. Có thể xem xét quá trình thực thi chính sách qua ba cấp độ có quan hệ chặt chẽ: định hướng, mục tiêu ở cấp Trung ương; cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch và quy định ở địa phương; tổ chức triển khai thông qua hoạt động của các cơ quan chuyên môn. Vì vậy, hiệu quả thực thi không chỉ phụ thuộc vào tính đầy đủ của hệ thống văn bản mà còn gắn với năng lực tổ chức, sự phân định thẩm quyền và khả năng phối hợp trong quá trình triển khai.
Trong lĩnh vực phát triển kinh tế và thu hút đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp là nội dung quan trọng của hoạt động thực thi chính sách. Hoạt động này không chỉ bao gồm cung cấp thông tin, hướng dẫn thủ tục hành chính mà còn liên quan đến chuẩn bị quy hoạch, hạ tầng, kết nối nguồn nhân lực, phối hợp giải quyết vướng mắc pháp lý và hỗ trợ triển khai dự án, sản xuất, kinh doanh. Đối với các khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT), hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp phụ thuộc vào sự phối hợp giữa cơ quan quản lý khu kinh tế với các sở, ngành, chính quyền địa phương và đơn vị cung cấp hạ tầng, dịch vụ. Do đó, cần đánh giá cả quy trình giải quyết công việc, mức độ đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp và khả năng xử lý những vấn đề liên ngành.
Trong bối cảnh đổi mới tổ chức bộ máy hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, năng lực thực thi chính sách càng có ý nghĩa quan trọng. Việc tinh gọn tổ chức bộ máy và điều chỉnh thẩm quyền có thể giảm tầng nấc trung gian, tăng tính chủ động và trách nhiệm của cơ quan thực hiện; đồng thời đặt ra yêu cầu về năng lực chuyên môn, nhân lực và cơ chế phối hợp. Tại Hội thảo về chính quyền địa phương 02 cấp tháng 6/2026, TS Trần Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Khoa học hành chính Việt Nam nhận định, việc tập trung nhiều chức năng, nhiệm vụ vào một số ít đầu mối có thể làm gia tăng áp lực công việc, hạn chế tính chuyên sâu và ảnh hưởng đến khả năng xử lý công việc của đội ngũ công chức (Thu Hằng, 2026). Mặc dù nhận định chủ yếu đề cập đến chính quyền cấp xã, đây là vấn đề tham khảo khi phân tích mối quan hệ giữa phân cấp thẩm quyền, năng lực tổ chức và trách nhiệm thực thi trong hệ thống hành chính.
Từ góc độ quản trị, mở rộng thẩm quyền không đồng nghĩa với việc năng lực thực hiện tự động được nâng cao. Hiệu quả thực thi phụ thuộc vào sự tương thích giữa nhiệm vụ được giao với nguồn lực, trình độ chuyên môn và điều kiện tổ chức của cơ quan tiếp nhận. Nếu trách nhiệm được phân bổ lại nhưng nhân lực, hệ thống thông tin và cơ chế phối hợp chưa được điều chỉnh tương ứng, quá trình triển khai có thể phát sinh khó khăn trong xử lý hồ sơ, xác định trách nhiệm và giải quyết vấn đề liên ngành. Vì vậy, đánh giá cải cách hành chính cần vượt ra ngoài những thay đổi về cơ cấu tổ chức hoặc số lượng thủ tục được phân cấp, hướng tới xem xét năng lực thực hiện nhiệm vụ và chất lượng phục vụ.
Thực tiễn tại thành phố Hải Phòng cho thấy mối quan hệ giữa định hướng chính sách, tổ chức thực hiện và hỗ trợ doanh nghiệp được thể hiện qua nhiều hoạt động quản lý cụ thể. Theo Báo cáo số 3465/BC-BQL ngày 12/6/2026, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đã tham mưu triển khai các quyết định về thành lập, quy hoạch khu kinh tế; xây dựng kế hoạch phân công nhiệm vụ giữa các sở, ngành; thực hiện các kế hoạch về chuyển đổi số, xúc tiến đầu tư và phát triển hạ tầng. Ban cũng tổng hợp định kỳ khó khăn, kiến nghị của doanh nghiệp để phối hợp giải quyết, công khai thủ tục hành chính trên cổng thông tin điện tử và phần mềm eHeza. Báo cáo ghi nhận việc cắt giảm 50% thời gian giải quyết các thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Ban. Những hoạt động này phản ánh quá trình chuyển hóa chủ trương thành nhiệm vụ, quy trình và cơ chế phối hợp cụ thể. Tuy nhiên, để xác định mức độ cải thiện trải nghiệm thực tế của doanh nghiệp, cần có thêm dữ liệu về thời gian xử lý hồ sơ, tỷ lệ giải quyết đúng hạn và phản hồi của đối tượng thụ hưởng.
Báo cáo số 3465/BC-BQL đồng thời ghi nhận một số khó khăn như khung pháp lý cho Khu thương mại tự do Hải Phòng chưa hoàn thiện đầy đủ, giải phóng mặt bằng tại một số KCN còn chậm, thiếu lao động kỹ thuật cao và phát triển nhà ở công nhân chưa đồng bộ. Những vấn đề này cho thấy hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào cải cách thủ tục hành chính mà còn gắn với khả năng huy động nguồn lực, hoàn thiện thể chế và bảo đảm các điều kiện triển khai dự án. Đây cũng là những lĩnh vực đòi hỏi sự phối hợp của nhiều cơ quan có thẩm quyền, vượt ra ngoài phạm vi xử lý độc lập của một cơ quan quản lý chuyên ngành.
Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất khung phân tích thực thi chính sách theo mối quan hệ giữa đầu vào, hoạt động triển khai, đầu ra quản lý và kết quả đối với doanh nghiệp. Đầu vào gồm cơ sở pháp lý, nhân lực, tài chính và hạ tầng phục vụ quản lý; hoạt động triển khai thể hiện qua cụ thể hóa chủ trương, cải cách thủ tục, chuyển đổi số, xúc tiến đầu tư và phối hợp tháo gỡ khó khăn; đầu ra được nhận diện qua văn bản ban hành, thủ tục giải quyết, dịch vụ cung cấp và hoạt động hỗ trợ; kết quả đối với doanh nghiệp được xem xét thông qua thời gian xử lý hồ sơ, chi phí tuân thủ, khả năng tiếp cận thông tin, mức độ hài lòng và hiệu quả giải quyết vướng mắc. Đây là khung phân tích do tác giả đề xuất, không phải hệ thống tiêu chí đánh giá chính thức của Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng.
Việc phân biệt các cấp độ đánh giá có ý nghĩa quan trọng vì kết quả thu hút đầu tư và phát triển kinh tế còn chịu tác động của thị trường, chiến lược doanh nghiệp, chất lượng hạ tầng và môi trường thể chế. Do đó, quy mô vốn đầu tư hoặc số lượng dự án không thể được coi là bằng chứng trực tiếp về hiệu quả của một biện pháp quản lý riêng lẻ. Đồng thời, cần phân biệt kết quả do cơ quan quản lý báo cáo với tác động thực tế được kiểm chứng bằng dữ liệu độc lập. Cách tiếp cận này cho phép nghiên cứu đánh giá toàn diện hơn quá trình cụ thể hóa chủ trương của Trung ương, năng lực tổ chức thực hiện, chất lượng phối hợp liên cơ quan và những hạn chế trong hỗ trợ doanh nghiệp tại thành phố Hải Phòng.
3. Khái quát tình hình phát triển công nghiệp và đầu tư tại thành phố Hải Phòng
Hải Phòng giữ vị trí quan trọng trong phát triển công nghiệp, kinh tế biển và dịch vụ logistics của vùng Đồng bằng sông Hồng và cả nước. Với lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống cảng biển, giao thông liên vùng và các KCN, KKT, thành phố có nhiều điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, các KCN, KKT vừa là địa bàn tập trung các dự án sản xuất công nghiệp, vừa là không gian triển khai chính sách về đầu tư, quy hoạch, xây dựng và hỗ trợ doanh nghiệp.
Giai đoạn 2023 - 2025 ghi nhận những kết quả đáng chú ý trong thu hút FDI tại các KCN, KKT thuộc phạm vi quản lý của Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng. Theo báo cáo năm 2023, trong 11 tháng đầu năm, vốn FDI thu hút đạt khoảng 3,102 tỷ USD; lũy kế có 511 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 25,933 tỷ USD. Năm 2024, theo Báo cáo số 5716/BC-BQL, vốn FDI thu hút ước đạt 4,2 tỷ USD, bằng 210% kế hoạch năm; số dự án lũy kế đạt 592, với tổng vốn đăng ký khoảng 28,95 tỷ USD. Đến năm 2025, Báo cáo số 6643/BC-BQL ghi nhận khoảng 1.022 dự án FDI với tổng vốn đăng ký ước đạt 43 tỷ USD. Các số liệu cho thấy quy mô đáng kể của hoạt động đầu tư tại các KCN, KKT. Tuy nhiên, sự khác biệt về kỳ báo cáo và phạm vi địa bàn, quản lý hành chính trong năm 2025 khiến việc so sánh giữa các năm cần thận trọng; chênh lệch về số dự án và vốn đăng ký không thể được xem trực tiếp là mức tăng trưởng thuần túy của hoạt động thu hút đầu tư.
Cùng với thu hút vốn, thành phố Hải Phòng chú trọng mở rộng không gian công nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và chuẩn bị quỹ đất cho các dự án mới. Theo báo cáo năm 2023, thành phố định hướng phát triển thêm 15 KCN với tổng diện tích hơn 6.200 ha. Đây là định hướng quy hoạch dài hạn, không đồng nghĩa với việc các KCN đã hoàn thành xây dựng hoặc đi vào hoạt động. Đến năm 2025, báo cáo của Ban Quản lý ghi nhận 44 KCN với tổng diện tích khoảng 12.082 ha theo phạm vi quản lý tại thời điểm báo cáo. Do có sự thay đổi về địa bàn thống kê, số liệu này chưa đủ cơ sở để xác định chính xác diện tích KCN tăng thêm trong giai đoạn 2023 - 2025.
Việc mở rộng không gian công nghiệp đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác quy hoạch, giải phóng mặt bằng, phát triển hạ tầng kỹ thuật và phối hợp giữa các cơ quan quản lý. Theo Báo cáo số 3465/BC-BQL ngày 12/6/2026, trong 06 tháng đầu năm 2026, Ban Quản lý tiếp tục phối hợp với các sở, ngành và chính quyền địa phương theo dõi tiến độ hạ tầng tại 16 KCN. Tính đến ngày 16/6/2026, tỷ lệ giải phóng mặt bằng tại một số dự án còn thấp, như KCN Tiên Lãng 1 đạt 1%, KCN Hoàng Diệu đạt 17% và KCN Sân bay Tiên Lãng (Khu B) đạt 25%. Thực trạng này cho thấy khoảng cách giữa việc phê duyệt chủ trương, dự án và hoàn thiện các điều kiện cần thiết để triển khai đầu tư trên thực tế. Bên cạnh đó, phát triển KCN còn phụ thuộc vào tiến độ xây dựng giao thông, hệ thống cấp điện, cấp nước, xử lý nước thải và các công trình phục vụ sản xuất.
Hoạt động đầu tư tại thành phố Hải Phòng đồng thời chịu tác động của những biến động kinh tế quốc tế. Do nhiều doanh nghiệp FDI hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu, điện tử, cơ khí chính xác và công nghiệp hỗ trợ, sản xuất tại các KCN, KKT có mối liên hệ chặt chẽ với thị trường và chuỗi cung ứng toàn cầu. Báo cáo số 3465/BC-BQL năm 2026 ghi nhận tác động của những thay đổi trong chính sách thuế quan của Hoa Kỳ, biến động giá năng lượng, chi phí vận tải và bất ổn địa chính trị đối với kế hoạch đầu tư, mở rộng sản xuất của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp đã điều chỉnh tiến độ hoặc cân nhắc lại kế hoạch đầu tư để ứng phó với rủi ro thị trường. Điều đó cho thấy kết quả thu hút FDI không chỉ phụ thuộc vào chính sách và điều kiện của địa phương mà còn chịu ảnh hưởng từ các yếu tố nằm ngoài phạm vi điều hành trực tiếp của chính quyền thành phố.
Trong bối cảnh đó, vai trò của cơ quan quản lý nhà nước không chỉ thể hiện ở thu hút dự án mới mà còn ở việc bảo đảm điều kiện thuận lợi cho các dự án đang triển khai và doanh nghiệp đang hoạt động. Cải cách thủ tục hành chính, cung cấp thông tin, giải quyết khó khăn, đôn đốc tiến độ hạ tầng và phối hợp liên cơ quan là những nội dung quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách phát triển công nghiệp. Đối với thành phố Hải Phòng, các lĩnh vực như quy hoạch, đất đai, xây dựng, môi trường và lao động đòi hỏi sự phối hợp của nhiều cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, hiệu quả quản lý cần được xem xét không chỉ qua số lượng dự án hoặc quy mô vốn đăng ký mà còn qua khả năng xử lý các vấn đề phát sinh trong suốt quá trình đầu tư và sản xuất, kinh doanh.
Nhìn chung, các báo cáo hành chính cho thấy vai trò quan trọng của KCN, KKT đối với thu hút đầu tư và phát triển công nghiệp tại thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên, các chỉ tiêu về vốn FDI, số lượng dự án và quy mô KCN cần được phân tích trong mối quan hệ với biến động thị trường, thay đổi phạm vi quản lý và tiến độ triển khai thực tế. Những chỉ tiêu này phản ánh quy mô, xu hướng phát triển nhưng chưa đủ để xác định tác động trực tiếp của từng chính sách hoặc biện pháp quản lý. Do đó, việc đánh giá quá trình thực thi chủ trương của Trung ương cần tập trung hơn vào hoạt động quản trị cụ thể, gồm cụ thể hóa chính sách, phân công trách nhiệm, cải cách thủ tục hành chính, phát triển hạ tầng và hỗ trợ doanh nghiệp. Đây là cơ sở để nhận diện kết quả, khó khăn và hạn chế trong tổ chức thực hiện chính sách tại các KCN, KKT của thành phố Hải Phòng.
|
Chỉ tiêu |
2023 (11 tháng) |
2024 (ước năm) |
2025 (ước năm) |
|
FDI thu hút (tỷ USD) |
3,102 |
4,2 |
3,5 |
|
FDI lũy kế (tỷ USD) |
25,933 |
28,95 |
43 |
|
Dự án FDI lũy kế |
511 |
592 |
1.022 |
|
Dự án DDI lũy kế |
217 |
231 |
358 |
|
Lao động (người) |
185.222 |
201.034 |
344.499 |
|
Xuất khẩu (tỷ USD) |
21,082 |
28,5 |
40,581 |
Nguồn: Báo cáo số 5557/BC-BQL (2023), Báo cáo số 5716/BC-BQL (2024), Báo cáo số 6643/BC-BQL (2025). Không so sánh trực tiếp tốc độ tăng trưởng do khác kỳ báo cáo và thay đổi phạm vi năm 2025.
4. Thực trạng tổ chức thực hiện Nghị quyết và hỗ trợ doanh nghiệp
4.1. Cụ thể hóa chủ trương của Trung ương thành chương trình, quy hoạch và nhiệm vụ
Quá trình tổ chức thực hiện chủ trương của Trung ương tại thành phố Hải Phòng được thể hiện qua việc xây dựng chương trình hành động, hoàn thiện quy hoạch và phân công nhiệm vụ cho các cơ quan quản lý nhà nước. Trong đó, Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác lập định hướng chiến lược về phát triển công nghiệp, kinh tế biển, dịch vụ logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh. Trên cơ sở đó, Chương trình hành động số 76 -CTr/TU ngày 08/7/2019 của Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng về thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW (nêu trên) được dẫn chiếu trong báo cáo năm 2023 góp phần cụ thể hóa chủ trương thành các mục tiêu, nhiệm vụ và trách nhiệm tổ chức thực hiện ở địa phương.
Việc thể chế hóa định hướng phát triển còn được thực hiện thông qua hệ thống quy hoạch, trong đó Quyết định số 1516/QĐ-TTg và Quyết định số 323/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ xác lập những nội dung liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức không gian đô thị và công nghiệp tại thành phố Hải Phòng. Các quy hoạch này là cơ sở định hướng bố trí không gian sản xuất, hạ tầng giao thông, cảng biển và các KCN, KKT, đồng thời phục vụ quản lý đất đai, chuẩn bị hạ tầng, lựa chọn nhà đầu tư và phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, hoàn thiện quy hoạch là khâu quan trọng để chuyển hóa mục tiêu phát triển thành điều kiện triển khai đầu tư trên thực tế.
Một dấu mốc đáng chú ý là việc thành lập Khu kinh tế ven biển phía Nam Hải Phòng theo Quyết định số 1511/QĐ-TTg ngày 04/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ. Quyết định này tạo cơ sở pháp lý cho việc mở rộng không gian phát triển công nghiệp, kinh tế biển, đồng thời đặt nền tảng cho các hoạt động quy hoạch, đầu tư hạ tầng và thu hút dự án tiếp theo. Tuy nhiên, thành lập KKT về mặt pháp lý không đồng nghĩa với việc đã hoàn thành quy hoạch, giải phóng mặt bằng và xây dựng hạ tầng. Khả năng triển khai trên thực tế còn phụ thuộc vào tiến độ thực hiện nhiệm vụ, nguồn lực đầu tư và hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan quản lý.
Đến năm 2025, quá trình cụ thể hóa chính sách tiếp tục được mở rộng với định hướng phát triển Khu thương mại tự do Hải Phòng. Quyết định số 4068/QĐ-UBND ngày 13/10/2025, được dẫn chiếu trong báo cáo năm 2025 của Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng là một trong những văn bản liên quan đến quá trình triển khai định hướng này. Việc hình thành khu thương mại tự do đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế quản lý, xác định rõ thẩm quyền và xây dựng quy trình phối hợp trong các lĩnh vực đầu tư, thương mại, hải quan, logistics, đất đai và hạ tầng. Do đó, hiệu quả thực thi không chỉ phụ thuộc vào việc ban hành quyết định mà còn gắn với năng lực tổ chức triển khai và sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan.
Theo Báo cáo số 3465/BC-BQL ngày 12/6/2026, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đã xây dựng, trình UBND thành phố kế hoạch triển khai Khu thương mại tự do, kèm theo bảng phân công nhiệm vụ và bộ tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư. Ban cũng tham mưu xây dựng Quy chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước tại các KKT, KCN và Khu thương mại tự do; quy chế được UBND thành phố ban hành theo Quyết định số 24/2026/QĐ-UBND ngày 13/4/2026. Những hoạt động này cho thấy quá trình cụ thể hóa chủ trương đã chuyển từ xác lập mục tiêu, ban hành quyết định sang xây dựng cơ chế phân công, phối hợp và tổ chức quản lý cụ thể.
Tuy nhiên, Báo cáo số 3465/BC-BQL cũng cho thấy khung pháp lý đối với Khu thương mại tự do Hải Phòng chưa được hoàn thiện đầy đủ, một số cơ chế, chính sách đặc thù vẫn đang trong quá trình cụ thể hóa. Những hạn chế này có thể ảnh hưởng đến tiến độ triển khai và khả năng thu hút nhà đầu tư, cho thấy khoảng cách giữa định hướng chính sách với điều kiện thực thi. Để thu hẹp khoảng cách đó, cần tiếp tục hoàn thiện quy định, phân định trách nhiệm và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền.
Từ thực tiễn trên, quá trình cụ thể hóa chủ trương của Trung ương tại thành phố Hải Phòng có thể được xem xét qua ba bước: xác lập định hướng phát triển; thể chế hóa thành quy hoạch, chương trình và quyết định quản lý; tổ chức thực hiện thông qua phân công nhiệm vụ, phối hợp liên cơ quan và chuẩn bị điều kiện đầu tư. Các báo cáo hành chính giai đoạn 2023 - 2025 phản ánh quá trình hình thành hệ thống văn bản và nhiệm vụ quản lý, trong khi báo cáo năm 2026 cho thấy những yêu cầu tiếp tục phát sinh khi triển khai thực tế. Tuy nhiên, số lượng văn bản và nhiệm vụ được giao chưa đủ để đánh giá toàn diện hiệu quả thực thi. Cần xem xét sâu hơn tiến độ hoàn thành nhiệm vụ, những khó khăn trong phối hợp và tác động đối với điều kiện đầu tư, hoạt động của doanh nghiệp. Đây là cơ sở để tiếp tục phân tích vai trò của cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và hỗ trợ doanh nghiệp tại thành phố Hải Phòng.
4.2. Cải cách thủ tục hành chính và nâng cao chất lượng phục vụ
Cải cách thủ tục hành chính là nội dung trọng tâm trong tổ chức thực hiện các chủ trương phát triển kinh tế và cải thiện môi trường đầu tư tại thành phố Hải Phòng. Đối với các KCN, KKT, hiệu quả giải quyết thủ tục trong các lĩnh vực đầu tư, quy hoạch, xây dựng, môi trường và lao động ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ triển khai dự án, mở rộng sản xuất và thực hiện nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp. Vì vậy, cải cách hành chính không chỉ được đánh giá qua việc cắt giảm thời gian xử lý hồ sơ mà còn ở khả năng chuẩn hóa quy trình, bảo đảm tính minh bạch, phân định trách nhiệm và nâng cao chất lượng phục vụ.
Năm 2023, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng triển khai các biện pháp đơn giản hóa, chuẩn hóa quy trình giải quyết thủ tục hành chính. Theo báo cáo năm 2023, thời gian xử lý nội bộ giảm 23%; 50/59 thủ tục hành chính được triển khai trực tuyến ở mức độ 3 và mức độ 4. Đặc biệt, Quyết định số 3598/QĐ-BQL ngày 20/7/2023 về chuẩn hóa quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính tạo cơ sở thống nhất các bước xử lý công việc trong phạm vi quản lý của Ban. Những kết quả này cho thấy cải cách được thực hiện đồng thời thông qua điều chỉnh quy trình nội bộ và mở rộng tiếp nhận, giải quyết thủ tục trên môi trường điện tử. Trong đó, chuẩn hóa quy trình góp phần phân định trách nhiệm, kiểm soát tiến độ và hạn chế sự thiếu thống nhất khi xử lý hồ sơ.
Năm 2024, công tác cải cách hành chính tiếp tục được duy trì. Theo Báo cáo số 5716/BC-BQL, Ban Quản lý đã hoàn thành 43/43 nhiệm vụ cải cách hành chính theo kế hoạch, đồng thời giảm bình quân 20% thời gian giải quyết thủ tục so với năm 2023. Kết quả này phản ánh tính liên tục trong triển khai các nhiệm vụ cải cách. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa mức độ hoàn thành nhiệm vụ theo kế hoạch và hiệu quả thực tế đối với doanh nghiệp. Việc hoàn thành các nhiệm vụ được giao chưa trực tiếp phản ánh mức độ thuận tiện, chi phí tuân thủ hay những khó khăn doanh nghiệp gặp phải. Tương tự, chỉ tiêu giảm thời gian giải quyết cần được xem xét cùng thời gian xử lý thực tế, tính chất hồ sơ và yêu cầu phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền.
Năm 2025, việc ứng dụng dịch vụ công trực tuyến tiếp tục được mở rộng. Theo Báo cáo số 6643/BC-BQL, trong tháng 12/2025, Ban Quản lý tiếp nhận 1.343 hồ sơ, trong đó 100% được thực hiện trực tuyến; 974 hồ sơ được giải quyết trước hạn và 06 hồ sơ quá hạn. Các số liệu cho thấy mức độ ứng dụng phương thức tiếp nhận điện tử, đồng thời phản ánh một phần tiến độ xử lý hồ sơ. Tuy nhiên, số hồ sơ tiếp nhận trong kỳ không nhất thiết trùng với số hồ sơ được giải quyết trong cùng kỳ, do có thể bao gồm hồ sơ chuyển tiếp hoặc hồ sơ đang xử lý. Vì vậy, khi chưa xác định đầy đủ số hồ sơ tồn đọng, số hồ sơ đã giải quyết và thời điểm tiếp nhận tương ứng, chưa thể tính chính xác tỷ lệ giải quyết đúng hạn hoặc đánh giá toàn diện hiệu quả xử lý.
Nhìn từ góc độ tổ chức thực hiện chính sách, giai đoạn 2023 - 2025 ghi nhận sự chuyển dịch từ chuẩn hóa quy trình nội bộ sang mở rộng dịch vụ công trực tuyến và theo dõi kết quả xử lý hồ sơ. Tuy nhiên, số hóa thủ tục không đồng nghĩa với việc toàn bộ quy trình đã được đơn giản hóa hoặc mọi khó khăn của doanh nghiệp đã được khắc phục. Các dự án trong KCN, KKT thường liên quan đến nhiều lĩnh vực như đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, phòng cháy, chữa cháy và môi trường. Do đó, thời gian giải quyết không chỉ phụ thuộc vào quy trình nội bộ của Ban Quản lý mà còn chịu tác động từ việc cung cấp thông tin, thẩm định hồ sơ và phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền. Hiệu quả cải cách cần được xem xét trên toàn bộ quá trình giải quyết công việc, không chỉ trong phạm vi xử lý của một cơ quan.
Bên cạnh cải tiến quy trình, nâng cao chất lượng phục vụ đòi hỏi cơ quan quản lý chủ động cung cấp thông tin, hướng dẫn và tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp. Báo cáo số 3465/BC-BQL ngày 12/6/2026 cho thấy Ban Quản lý tiếp tục rà soát, cập nhật và công khai thủ tục hành chính trên cổng thông tin điện tử và phần mềm eHeza; đồng thời tổng hợp hàng tháng các khó khăn, kiến nghị của doanh nghiệp để phối hợp với các sở, ngành hướng dẫn, xử lý. Báo cáo cũng ghi nhận việc cắt giảm 50% thời gian giải quyết các thủ tục thuộc phạm vi quản lý. Những hoạt động này cho thấy cải cách hành chính ngày càng gắn với hỗ trợ doanh nghiệp thông qua công khai thông tin và tăng cường phối hợp giải quyết kiến nghị. Tuy nhiên, chỉ tiêu cắt giảm thời gian năm 2026 cần được đối chiếu với danh mục thủ tục và mốc thời gian áp dụng trước khi so sánh với kết quả giai đoạn 2023 - 2025.
Từ thực tiễn trên, có thể nhận diện hai phương diện của cải cách hành chính tại các KCN, KKT Hải Phòng. Thứ nhất, cải cách trong nội bộ cơ quan quản lý, thể hiện ở chuẩn hóa quy trình, phân định trách nhiệm, rút ngắn thời gian xử lý và ứng dụng công nghệ thông tin. Thứ hai, cải thiện quan hệ giữa cơ quan quản lý với doanh nghiệp thông qua mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ công, công khai thông tin và phối hợp tháo gỡ khó khăn. Hai phương diện này có quan hệ chặt chẽ nhưng không đồng nhất. Thời gian xử lý nội bộ có thể giảm trong khi doanh nghiệp vẫn phải chuẩn bị nhiều loại hồ sơ, bổ sung thông tin hoặc chờ ý kiến của cơ quan khác. Vì vậy, chất lượng phục vụ cần được đánh giá từ cả phía cơ quan thực hiện và phía doanh nghiệp sử dụng dịch vụ.
Nhìn chung, các báo cáo hành chính ghi nhận những chuyển biến trong cải cách thủ tục hành chính của Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, nổi bật là chuẩn hóa quy trình, giảm thời gian giải quyết và mở rộng tiếp nhận hồ sơ trực tuyến. Tuy nhiên, các kết quả hiện có chủ yếu phản ánh hoạt động triển khai và chỉ tiêu quản lý do cơ quan có thẩm quyền báo cáo. Để đánh giá đầy đủ tác động đối với doanh nghiệp, cần bổ sung dữ liệu về thời gian xử lý thực tế theo từng loại thủ tục, số lần yêu cầu bổ sung hồ sơ, tỷ lệ giải quyết đúng hạn, mức độ phối hợp liên cơ quan và phản hồi của doanh nghiệp. Việc kết hợp các chỉ tiêu hành chính với dữ liệu thực tế từ doanh nghiệp sẽ giúp xác định rõ hơn mức độ đóng góp của cải cách vào việc giảm chi phí tuân thủ, tăng tính minh bạch, khả năng dự đoán của thủ tục và cải thiện môi trường đầu tư tại thành phố Hải Phòng.
4.3. Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số
Chuyển đổi số là nội dung quan trọng trong hiện đại hóa quản lý nhà nước và nâng cao chất lượng hỗ trợ doanh nghiệp tại các KCN, KKT của thành phố Hải Phòng. Nếu cải cách thủ tục hành chính tập trung vào đơn giản hóa quy trình và rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, chuyển đổi số hướng đến đổi mới phương thức lưu trữ, khai thác và trao đổi thông tin giữa cơ quan quản lý với doanh nghiệp. Trong bối cảnh hoạt động đầu tư liên quan đến nhiều lĩnh vực như đầu tư, quy hoạch, xây dựng, đất đai, môi trường và lao động, việc xây dựng dữ liệu và nền tảng quản lý điện tử có ý nghĩa quan trọng đối với theo dõi dự án, phối hợp xử lý công việc và cung cấp thông tin. Tuy nhiên, hiệu quả chuyển đổi số không chỉ phụ thuộc vào mức độ ứng dụng công nghệ mà còn ở khả năng tích hợp hệ thống và đáp ứng nhu cầu thực tế của người sử dụng.
Giai đoạn 2023 - 2025, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng từng bước triển khai số hóa dữ liệu và phát triển nền tảng quản lý điện tử. Theo Báo cáo số 5716/BC-BQL năm 2024, khối lượng tài liệu được số hóa đạt 383.642 trang, với gần 24.000 bộ hồ sơ lũy kế. Kết quả này góp phần chuyển đổi phương thức lưu trữ, tạo điều kiện tra cứu và khai thác thông tin phục vụ công tác quản lý, đồng thời đặt nền tảng cho xây dựng hệ thống dữ liệu về các dự án đầu tư. Tuy nhiên, số lượng tài liệu được số hóa chủ yếu phản ánh quy mô triển khai, chưa cho thấy đầy đủ mức độ liên thông dữ liệu hoặc khả năng khai thác dữ liệu trong giải quyết thủ tục hành chính.
Một nội dung đáng chú ý là phát triển và ứng dụng nền tảng eHeza trong quản lý và hỗ trợ doanh nghiệp. Theo báo cáo năm 2024, hệ thống ghi nhận trên 500 doanh nghiệp có tài khoản, cho thấy nền tảng đã được đưa vào sử dụng và tạo thêm kênh tương tác giữa cơ quan quản lý với doanh nghiệp tại KCN, KKT. Về phương diện quản trị, nền tảng điện tử có thể hỗ trợ cung cấp thông tin, tiếp nhận dữ liệu và trao đổi công việc, qua đó giảm sự phụ thuộc vào phương thức liên hệ truyền thống. Tuy nhiên, số lượng tài khoản chưa phản ánh đầy đủ mức độ sử dụng thường xuyên, phạm vi chức năng được khai thác hay chất lượng tương tác. Để đánh giá hiệu quả eHeza, cần bổ sung dữ liệu về số doanh nghiệp hoạt động thực tế trên hệ thống, tần suất sử dụng, loại yêu cầu được tiếp nhận và thời gian phản hồi, xử lý.
Ứng dụng công nghệ thông tin còn liên quan đến các lĩnh vực quản lý đầu tư, lao động, tài nguyên và môi trường, xây dựng, quy hoạch và thông tin doanh nghiệp. Do một dự án đầu tư có thể đồng thời phát sinh nhiều yêu cầu quản lý, khả năng kết nối thông tin giữa các lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng đối với theo dõi tiến độ dự án và hạn chế phân tán dữ liệu. Tuy nhiên, việc sử dụng nhiều phần mềm chuyên môn không đồng nghĩa với dữ liệu đã được tích hợp, chia sẻ đầy đủ. Hiệu quả phối hợp phụ thuộc vào tính thống nhất, độ chính xác của dữ liệu, quyền truy cập và quy trình trao đổi thông tin giữa các cơ quan liên quan.
Từ góc độ tổ chức thực hiện chính sách, chuyển đổi số đòi hỏi đổi mới cả phương thức phối hợp và trách nhiệm xử lý công việc. Bên cạnh hạ tầng công nghệ, cơ quan quản lý cần xác định rõ trách nhiệm cập nhật, kiểm tra tính chính xác và xử lý dữ liệu. Nếu hệ thống điện tử vẫn song song với nhiều khâu thủ công hoặc doanh nghiệp phải cung cấp lại thông tin đã có, lợi ích về thời gian và chi phí tuân thủ sẽ bị hạn chế. Vì vậy, cần phân biệt giữa số hóa hồ sơ, ứng dụng phần mềm trong quản lý và chuyển đổi thực chất quy trình giải quyết công việc. Đây là những quá trình có liên hệ chặt chẽ nhưng không đương nhiên diễn ra đồng thời hoặc tạo ra kết quả tương đương.
Báo cáo số 3465/BC-BQL ngày 12/6/2026 cho biết Ban Quản lý tiếp tục triển khai các kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; tổ chức tập huấn ứng dụng công nghệ thông tin cho doanh nghiệp và thành lập Tổ Công nghệ số để triển khai các nhiệm vụ liên quan đến phát triển KCN thông minh, KCN sinh thái. Báo cáo cũng đề cập việc đề xuất xây dựng nền tảng “Khu Thương mại tự do số thông minh”, thể hiện định hướng mở rộng ứng dụng công nghệ từ quản lý hồ sơ, cung cấp dịch vụ công sang quản trị các không gian kinh tế mới. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa nhiệm vụ đã triển khai, hoạt động đang thực hiện và đề xuất xây dựng nền tảng; các thông tin này chưa đủ để khẳng định hệ thống đã hoàn thiện hoặc phát huy hiệu quả vận hành.
Đối với doanh nghiệp, hiệu quả chuyển đổi số cần được đánh giá thông qua những thay đổi cụ thể trong tiếp cận thông tin và thực hiện thủ tục hành chính. Việc nộp hồ sơ trực tuyến, tra cứu quy định và tương tác qua nền tảng điện tử chỉ thực sự nâng cao chất lượng phục vụ khi giúp giảm số lần liên hệ trực tiếp, hạn chế cung cấp thông tin trùng lặp, cho phép theo dõi tiến độ và bảo đảm phản hồi kịp thời. Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), thông tin rõ ràng, thống nhất và quy trình có khả năng dự đoán là những điều kiện quan trọng để xây dựng kế hoạch đầu tư, tổ chức sản xuất. Do đó, đánh giá chuyển đổi số cần kết hợp các chỉ tiêu về hạ tầng, mức độ triển khai công nghệ với dữ liệu về trải nghiệm thực tế của doanh nghiệp, thay vì chỉ dựa vào số tài khoản hoặc khối lượng tài liệu được số hóa.
Nhìn chung, các báo cáo cho thấy Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đã có những bước triển khai trong số hóa hồ sơ, phát triển eHeza và ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý. Những kết quả này tạo cơ sở hiện đại hóa phương thức điều hành và tăng cường tương tác với doanh nghiệp. Tuy nhiên, dữ liệu hiện có chủ yếu phản ánh quy mô, tiến độ triển khai, chưa đủ để đánh giá toàn diện tác động đối với hiệu quả quản lý và chất lượng hỗ trợ doanh nghiệp. Vì vậy, cần bổ sung các chỉ tiêu về mức độ sử dụng thực tế, khả năng liên thông dữ liệu, thời gian xử lý yêu cầu, tỷ lệ hồ sơ phải bổ sung thông tin và mức độ hài lòng của người sử dụng. Qua đó, có thể xác định rõ hơn liệu chuyển đổi số đã góp phần đổi mới thực chất phương thức quản lý, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp hay mới chủ yếu dừng ở số hóa tài liệu và ứng dụng công nghệ trong một số khâu công việc.
4.4. Phát triển hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế và xúc tiến đầu tư
Phát triển hạ tầng KCN, KKT và xúc tiến đầu tư là những nội dung quan trọng trong cụ thể hóa định hướng phát triển công nghiệp, kinh tế biển của thành phố Hải Phòng. Nếu cải cách hành chính và chuyển đổi số hướng đến nâng cao hiệu quả quản lý, thì phát triển hạ tầng và xúc tiến đầu tư tập trung tạo điều kiện thu hút, triển khai và duy trì hoạt động của các dự án. Hai lĩnh vực này có quan hệ chặt chẽ: xúc tiến đầu tư kết nối địa phương với nhà đầu tư, trong khi quy hoạch, quỹ đất, hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ hỗ trợ quyết định khả năng tiếp nhận dự án. Vì vậy, cần đánh giá đồng thời tiến độ chuẩn bị hạ tầng, mức độ sẵn sàng đầu tư và kết quả thu hút nhà đầu tư, không chỉ dựa vào số lượng dự án hoặc vốn đăng ký.
Trong giai đoạn 2023 - 2025, thành phố Hải Phòng tiếp tục mở rộng không gian phát triển công nghiệp thông qua công tác quy hoạch và thành lập KCN, KKT mới. Đáng chú ý, Quyết định số 1511/QĐ-TTg ngày 04/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Khu kinh tế ven biển phía Nam Hải Phòng tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển không gian kinh tế mới, gắn với công nghiệp, dịch vụ cảng biển và logistics. Tuy nhiên, thành lập KKT mới là bước khởi đầu về pháp lý; việc đưa khu kinh tế vào hoạt động còn phụ thuộc vào tiến độ lập, phê duyệt quy hoạch, giải phóng mặt bằng, huy động nguồn lực, xây dựng hạ tầng và thu hút dự án. Do đó, cần phân biệt giữa kết quả thành lập khu kinh tế với mức độ hoàn thiện hạ tầng và khả năng vận hành thực tế.
Công tác quy hoạch giữ vai trò quan trọng trong chuẩn bị điều kiện phát triển hạ tầng và triển khai dự án. Theo Báo cáo số 5716/BC-BQL năm 2024, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến lập quy hoạch chi tiết đối với 62 dự án. Hoạt động này góp phần cụ thể hóa định hướng phát triển thành nhiệm vụ quản lý, làm căn cứ xác định chức năng sử dụng đất, bố trí công trình và tổ chức không gian đầu tư. Tuy nhiên, số lượng dự án được đề cập trong công tác lập quy hoạch không đồng nghĩa với số dự án đã hoàn thành thủ tục hoặc đủ điều kiện xây dựng. Đánh giá tiến độ cần phân biệt rõ các dự án đang lập, đang thẩm định, đã được phê duyệt và đã chuyển sang giai đoạn đầu tư xây dựng.
Bên cạnh quy hoạch KCN, KKT, phát triển hạ tầng giao thông và cảng biển có ý nghĩa quan trọng đối với năng lực thu hút đầu tư của thành phố. Với lợi thế về vị trí và hệ thống cảng biển, khả năng kết nối KCN, KKT với mạng lưới giao thông, logistics và thị trường xuất nhập khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Theo Báo cáo số 6643/BC-BQL năm 2025, các bến số 3 - 6 tại Cảng quốc tế Lạch Huyện đã được đưa vào khai thác. Đây là kết quả cụ thể trong phát triển hạ tầng cảng biển, góp phần mở rộng năng lực phục vụ vận tải hàng hóa. Tuy nhiên, để xác định mức độ tác động đối với doanh nghiệp, cần có thêm dữ liệu về công suất khai thác, sản lượng hàng hóa, chi phí logistics và thời gian vận chuyển trước và sau khi các bến cảng đi vào hoạt động.
Tiến độ phát triển hạ tầng còn phụ thuộc vào công tác giải phóng mặt bằng và sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý. Đây là nhiệm vụ liên ngành, liên quan đến đất đai, xây dựng, môi trường, đầu tư và chính quyền địa phương. Báo cáo số 3465/BC-BQL năm 2026 ghi nhận tỷ lệ giải phóng mặt bằng tại KCN Tiên Lãng 1 là 1%, KCN Hoàng Diệu là 17% và KCN Sân bay Tiên Lãng (Khu B) là 25%. Những số liệu này phản ánh khó khăn trong quá trình chuẩn bị mặt bằng, cho thấy khoảng cách giữa việc phê duyệt chủ trương đầu tư và khả năng bàn giao mặt bằng để triển khai dự án. Thực trạng đó đặt ra yêu cầu tăng cường phối hợp giữa Ban Quản lý, các sở, ngành và chính quyền địa phương, nhất là đối với những nhiệm vụ vượt quá thẩm quyền xử lý độc lập của một cơ quan.
Song song với phát triển hạ tầng, hoạt động xúc tiến đầu tư được triển khai nhằm quảng bá môi trường kinh doanh, giới thiệu cơ hội và kết nối với các nhà đầu tư trong, ngoài nước. Theo Báo cáo số 6643/BC-BQL năm 2025, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng thực hiện 24 chương trình xúc tiến đầu tư, trong đó có 4 chương trình ở nước ngoài. Những hoạt động này thể hiện nỗ lực chủ động tiếp cận nhà đầu tư và mở rộng quan hệ hợp tác. Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giữa các địa phương, xúc tiến đầu tư không chỉ cung cấp thông tin về chính sách mà còn giới thiệu điều kiện hạ tầng, nguồn nhân lực, kết nối logistics và định hướng phát triển công nghiệp của thành phố.
Tuy nhiên, số lượng chương trình xúc tiến chủ yếu phản ánh quy mô hoạt động, chưa đủ để xác định hiệu quả thu hút đầu tư. Kết quả xúc tiến có thể trải qua nhiều giai đoạn, từ thiết lập quan hệ, trao đổi thông tin, khảo sát địa điểm đến đàm phán và triển khai dự án. Vì vậy, cần xem xét số lượng nhà đầu tư được tiếp cận, cuộc làm việc và khảo sát thực địa, dự án bước vào giai đoạn nghiên cứu hoặc đàm phán, cũng như tỷ lệ dự án được triển khai. Đồng thời, cần thận trọng khi quy kết kết quả thu hút FDI cho hoạt động xúc tiến, bởi quyết định đầu tư còn chịu ảnh hưởng của chiến lược doanh nghiệp, thị trường, chi phí lao động, chất lượng hạ tầng và tình hình kinh tế quốc tế.
Từ góc độ tổ chức thực hiện chính sách, phát triển hạ tầng và xúc tiến đầu tư có quan hệ bổ trợ nhưng đặt ra những yêu cầu quản lý khác nhau. Xúc tiến đầu tư hướng đến thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư, trong khi phát triển hạ tầng đòi hỏi quá trình thực hiện dài hạn và sự tham gia của nhiều cơ quan, chủ thể. Nếu tiến độ chuẩn bị mặt bằng, hạ tầng hoặc thủ tục pháp lý không đáp ứng nhu cầu, nhà đầu tư có thể chưa triển khai được dự án dù đã có ý định đầu tư. Vì vậy, hiệu quả thu hút đầu tư không chỉ phụ thuộc vào khả năng quảng bá, kết nối mà còn gắn với năng lực chuẩn bị điều kiện, điều phối tiến độ và tháo gỡ khó khăn. Cần gắn kết hoạt động xúc tiến với quy hoạch, phát triển hạ tầng và hỗ trợ doanh nghiệp sau khi dự án được chấp thuận.
Nhìn chung, các báo cáo giai đoạn 2023 - 2025 ghi nhận kết quả trong mở rộng không gian công nghiệp, triển khai quy hoạch, phát triển hạ tầng cảng biển và tổ chức xúc tiến đầu tư tại thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên, việc thành lập KKT, lập quy hoạch và tổ chức chương trình xúc tiến cần được phân biệt với mức độ hoàn thành hạ tầng, khả năng triển khai dự án và hiệu quả thực tế đối với doanh nghiệp. Để đánh giá đầy đủ chất lượng tổ chức thực hiện chính sách, cần bổ sung các chỉ tiêu về tiến độ giải phóng mặt bằng, tỷ lệ hoàn thành hạ tầng kỹ thuật, thời gian bàn giao đất, mức độ đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư và tỷ lệ chuyển hóa hoạt động xúc tiến thành dự án thực tế. Cách tiếp cận này giúp đánh giá không chỉ quy mô hoạt động mà còn năng lực phối hợp, điều hành và tổ chức thực hiện của các cơ quan quản lý trong phát triển KCN, KKT tại thành phố Hải Phòng.
4.5. Hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động và giải quyết vướng mắc
Bên cạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và phát triển hạ tầng, hỗ trợ doanh nghiệp tại các KCN, KKT tại thành phố Hải Phòng còn được thực hiện thông qua tiếp nhận kiến nghị, phản hồi thông tin và phối hợp tháo gỡ khó khăn trong quá trình đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Theo báo cáo năm 2023, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đã triển khai hệ thống tiếp nhận, trả lời phản ánh, kiến nghị và công khai đường dây nóng, tạo kênh liên hệ giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý. Năm 2024, hoạt động hỗ trợ tiếp tục được thực hiện thông qua các hình thức tiếp xúc, đối thoại và tương tác trực tuyến. Những hoạt động này cho thấy công tác hỗ trợ doanh nghiệp không chỉ giới hạn ở giải quyết thủ tục hành chính mà còn bao gồm duy trì trao đổi thông tin, tiếp nhận phản hồi và nhận diện những bất cập trong quá trình thực thi chính sách.
Quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương phát triển công nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp tại Hải Phòng giai đoạn 2023 - 2025 ghi nhận những kết quả tích cực trong việc cụ thể hóa chính sách và triển khai các nhiệm vụ quản lý nhà nước. Các báo cáo hành chính cho thấy sự chuyển hóa từ định hướng phát triển của Trung ương thành hệ thống quy hoạch, chương trình hành động và các hoạt động quản lý cụ thể, bao gồm cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số, phát triển hạ tầng KCN, KKT và thiết lập các kênh tương tác với doanh nghiệp. Việc chuẩn hóa quy trình, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và mở rộng dịch vụ công trực tuyến phản ánh những nỗ lực cải thiện phương thức quản lý và nâng cao chất lượng phục vụ. Tuy nhiên, các kết quả này chủ yếu cho thấy mức độ triển khai nhiệm vụ từ phía cơ quan quản lý, chưa đủ để khẳng định hiệu quả thực tế đối với doanh nghiệp, đặc biệt về chi phí tuân thủ, khả năng tiếp cận thông tin và mức độ hài lòng với dịch vụ hành chính.
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình thực hiện chính sách vẫn đối mặt với các khó khăn liên quan đến giải phóng mặt bằng, phát triển hạ tầng và phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền. Những vấn đề được ghi nhận trong báo cáo năm 2023 và 2024 cho thấy việc triển khai các dự án đầu tư không chỉ phụ thuộc vào quyết định của Ban Quản lý Khu kinh tế mà còn liên quan đến trách nhiệm và tiến độ thực hiện của các sở, ngành và chính quyền địa phương. Điều này đặt ra yêu cầu xem xét hiệu quả thực thi chính sách trong mối quan hệ giữa phân công thẩm quyền, cơ chế phối hợp và khả năng giải quyết các vướng mắc phát sinh. Tuy nhiên, để xác định nguyên nhân cụ thể của những khó khăn này, cần phân tích tiến độ và quá trình xử lý tại từng dự án, thay vì mặc nhiên quy chúng cho những hạn chế về năng lực quản lý hoặc sự thiếu hiệu quả trong phối hợp liên ngành.
Việc đánh giá kết quả thực hiện chính sách cũng cần tính đến những giới hạn của nguồn dữ liệu. Trước hết, các báo cáo hành chính chủ yếu phản ánh nhiệm vụ và kết quả do cơ quan quản lý tổng hợp, trong khi còn thiếu dữ liệu độc lập về trải nghiệm của doanh nghiệp. Sự thay đổi về phạm vi địa bàn và quản lý hành chính năm 2025 cũng hạn chế khả năng so sánh trực tiếp một số chỉ tiêu về đầu tư, dự án và quy mô KCN, KKT. Do đó, các số liệu cần được sử dụng phù hợp với phạm vi thống kê và mục đích phân tích, tránh diễn giải sự thay đổi giữa các năm như bằng chứng trực tiếp về hiệu quả của một chính sách hoặc biện pháp quản lý cụ thể.
Từ những giới hạn trên, các yếu tố như năng lực nhân sự, cơ chế phối hợp liên ngành và điều kiện hạ tầng công nghệ có thể được xem là những hướng giải thích cần tiếp tục kiểm chứng, thay vì những nguyên nhân đã được xác lập. Để đánh giá toàn diện hơn quá trình tổ chức thực hiện chính sách, cần kết hợp báo cáo hành chính với dữ liệu về tiến độ dự án, quá trình giải quyết kiến nghị và phản hồi trực tiếp từ doanh nghiệp. Cách tiếp cận này không chỉ giúp xác định những kết quả đã đạt được mà còn làm rõ khoảng cách giữa việc ban hành chính sách, triển khai nhiệm vụ quản lý và những thay đổi thực tế trong môi trường đầu tư. Qua đó, hiệu quả thực thi chính sách tại thành phố Hải Phòng có thể được xem xét trên cơ sở năng lực tổ chức thực hiện, khả năng phối hợp giữa các cơ quan và mức độ đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, thay vì chỉ dựa vào các chỉ tiêu về quy mô đầu tư hoặc số lượng nhiệm vụ hoàn thành.
Trên cơ sở những kết quả và hạn chế được nhận diện trong giai đoạn 2023 - 2025, một số giải pháp cần được ưu tiên nhằm tăng cường trách nhiệm giải trình, cải thiện cơ chế phối hợp và nâng cao chất lượng phục vụ tại các KCN, KKT, cụ thể như sau:
Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế theo dõi và đánh giá tiến độ thực hiện chính sách thông qua việc xây dựng hệ thống giám sát liên thông từ nghị quyết, chương trình hành động đến các nhiệm vụ cụ thể. Mỗi nhiệm vụ cần được xác định rõ cơ quan chủ trì, đơn vị phối hợp, thời hạn thực hiện và kết quả dự kiến. Việc theo dõi không chỉ dừng lại ở tình trạng hoàn thành nhiệm vụ mà cần ghi nhận những khó khăn phát sinh, nguyên nhân chậm tiến độ và trách nhiệm xử lý. Cách tiếp cận này giúp tăng tính minh bạch trong phân công nhiệm vụ, đồng thời tạo cơ sở đánh giá năng lực tổ chức thực hiện của các cơ quan quản lý.
Thứ hai, nâng cao tính minh bạch và khả năng đánh giá hiệu quả cải cách thủ tục hành chính thông qua việc công khai các chỉ tiêu về thời gian xử lý thực tế theo từng loại thủ tục, tỷ lệ hồ sơ phải bổ sung, số lần yêu cầu chỉnh sửa và nguyên nhân chậm trễ. Bên cạnh việc thống kê số lượng hồ sơ tiếp nhận và giải quyết, cần phân biệt thời gian xử lý thuộc trách nhiệm của Ban Quản lý với thời gian chờ phối hợp từ các cơ quan khác. Điều này cho phép xác định rõ những khâu còn gây chậm trễ, từ đó đề xuất điều chỉnh quy trình phù hợp và hạn chế việc đánh giá hiệu quả cải cách chỉ dựa trên mức cắt giảm thời gian theo quy định.
Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện nền tảng eHeza theo hướng tăng cường khả năng theo dõi và giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp. Ngoài chức năng cung cấp thông tin và hỗ trợ tương tác trực tuyến, hệ thống cần cho phép ghi nhận toàn bộ quá trình xử lý kiến nghị, từ thời điểm tiếp nhận, phân công đơn vị phụ trách đến phản hồi và kết quả giải quyết. Việc tích hợp các chỉ tiêu về thời gian phản hồi, tình trạng xử lý và mức độ hoàn thành sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp theo dõi tiến độ, đồng thời giúp cơ quan quản lý nhận diện những vấn đề thường xuyên phát sinh. Tuy nhiên, hiệu quả của nền tảng cần được đánh giá thông qua mức độ sử dụng thực tế và khả năng giải quyết công việc, thay vì chỉ dựa vào số lượng tài khoản hoặc dữ liệu được số hóa.
Thứ tư, tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành trong giải phóng mặt bằng và phát triển hạ tầng KCN, KKT. Đối với những dự án có sự tham gia của nhiều cơ quan, cần xác định rõ đầu mối điều phối, trách nhiệm của từng đơn vị và thời hạn xử lý các vướng mắc. Đồng thời, việc xây dựng hệ thống theo dõi tiến độ theo từng dự án, bao gồm tình trạng giải phóng mặt bằng, hoàn thiện hạ tầng và các thủ tục liên quan, sẽ giúp cơ quan quản lý chủ động nhận diện nguy cơ chậm tiến độ. Thông tin phù hợp cần được công khai để nhà đầu tư có cơ sở xây dựng kế hoạch triển khai, đồng thời tăng cường trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền.
Thứ năm, thiết lập cơ chế đối thoại và khảo sát doanh nghiệp định kỳ nhằm bổ sung nguồn thông tin trực tiếp về quá trình thực hiện chính sách. Bên cạnh các hội nghị đối thoại, cần tổ chức khảo sát có hệ thống về những khó khăn trong thực hiện thủ tục hành chính, tiếp cận đất đai, sử dụng hạ tầng và phối hợp với cơ quan quản lý. Kết quả khảo sát cần được tổng hợp theo nhóm vấn đề và lĩnh vực quản lý để xác định những khó khăn có tính phổ biến, đồng thời theo dõi mức độ cải thiện qua từng kỳ đánh giá. Việc kết hợp dữ liệu hành chính với phản hồi từ doanh nghiệp sẽ góp phần hạn chế sự phụ thuộc vào báo cáo nội bộ và tạo cơ sở điều chỉnh chính sách phù hợp hơn với thực tiễn.
Thứ sáu, đổi mới hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng hỗ trợ doanh nghiệp theo hướng chú trọng kết quả thực tế thay vì chỉ thống kê hoạt động được triển khai. Các chỉ tiêu cần bao gồm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính, thời gian giải quyết công việc, mức độ hài lòng của doanh nghiệp và khả năng dự đoán về quy trình, thời hạn xử lý. Đặc biệt, cần đánh giá mức độ nhất quán giữa thông tin được công bố và yêu cầu thực tế trong quá trình giải quyết hồ sơ, cũng như khả năng xử lý các vấn đề liên quan đến nhiều cơ quan quản lý. Những tiêu chí này sẽ giúp phản ánh đầy đủ hơn chất lượng phục vụ và xác định các lĩnh vực cần ưu tiên cải thiện.
Các giải pháp trên hướng đến việc hoàn thiện quá trình tổ chức thực hiện chính sách theo hướng minh bạch, có khả năng giám sát và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của doanh nghiệp. Trọng tâm không chỉ là nâng cao số lượng nhiệm vụ hoàn thành mà còn là cải thiện khả năng phối hợp, rút ngắn thời gian xử lý thực tế và giải quyết hiệu quả những khó khăn phát sinh trong quá trình đầu tư, sản xuất và kinh doanh. Việc kết hợp dữ liệu quản lý với đánh giá độc lập từ phía doanh nghiệp sẽ tạo cơ sở thực tiễn để thành phố Hải Phòng tiếp tục hoàn thiện cơ chế thực thi chính sách, nâng cao chất lượng môi trường đầu tư và phát triển bền vững các KCN, KKT trong thời gian tới.
Trên cơ sở đánh giá kết quả và những hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển công nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2023 - 2025, đề xuất một số kiến nghị đối với các cấp quản lý nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách.
Một là, đối với các cơ quan Trung ương, cần tiếp tục rà soát và hoàn thiện tính thống nhất giữa các quy định pháp luật về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng và bảo vệ môi trường. Trong quá trình triển khai các dự án tại KCN, KKT, sự giao thoa giữa các lĩnh vực quản lý có thể làm phát sinh những yêu cầu phối hợp và khó khăn trong xác định trình tự, thẩm quyền giải quyết. Vì vậy, việc hoàn thiện khung pháp lý cần chú trọng làm rõ trách nhiệm của từng cơ quan, bảo đảm tính nhất quán giữa các quy định và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho chính quyền địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện.
Hai là, đối với chính quyền thành phố Hải Phòng, cần tăng cường cơ chế điều phối liên ngành trong triển khai các dự án đầu tư, đặc biệt đối với những nhiệm vụ liên quan đến giải phóng mặt bằng, phát triển hạ tầng và hoàn thiện thủ tục pháp lý. Thành phố cần nghiên cứu xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung giữa các cơ quan quản lý, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát tiến độ theo từng dự án, xác định rõ đơn vị chủ trì, thời hạn thực hiện và trách nhiệm xử lý những khó khăn phát sinh. Việc tăng cường chia sẻ thông tin và phối hợp giữa các sở, ngành và chính quyền địa phương sẽ góp phần hạn chế tình trạng chậm trễ do sự phân tán trách nhiệm trong quá trình thực thi chính sách.
Ba là, đối với Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế tiếp nhận, phân loại và giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp theo từng nhóm vấn đề, bao gồm thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường, lao động và hạ tầng. Đồng thời, cần nâng cao khả năng tương tác trên các nền tảng số, đặc biệt là hệ thống eHeza, theo hướng cho phép doanh nghiệp theo dõi tiến độ xử lý và tiếp cận thông tin về kết quả giải quyết kiến nghị. Việc công khai thời gian phản hồi, đơn vị phụ trách và tình trạng xử lý sẽ góp phần tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động quản lý.
Bên cạnh đó, cần thiết lập cơ chế đánh giá định kỳ có sự tham gia trực tiếp của doanh nghiệp nhằm bổ sung bằng chứng về chất lượng thực thi chính sách. Hoạt động đánh giá không nên chỉ dựa vào số lượng nhiệm vụ hoàn thành, hồ sơ được giải quyết hoặc chương trình xúc tiến đầu tư đã tổ chức, mà cần xem xét thời gian xử lý thực tế, chi phí tuân thủ, mức độ hài lòng và khả năng tiếp cận của doanh nghiệp đối với thủ tục hành chính. Đồng thời, cần phân biệt giữa kết quả đầu ra của hoạt động quản lý và những thay đổi về đầu tư, sản xuất và kinh doanh, bởi các kết quả kinh tế còn chịu ảnh hưởng từ điều kiện thị trường, chiến lược doanh nghiệp và những biến động của môi trường đầu tư trong nước và quốc tế.
Các kiến nghị trên hướng đến việc tăng cường tính thống nhất của khung pháp lý, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan quản lý và xây dựng cơ chế đánh giá chính sách dựa trên kết quả thực tế. Việc kết hợp dữ liệu hành chính với phản hồi độc lập từ doanh nghiệp sẽ tạo cơ sở để nhận diện chính xác hơn những khó khăn trong quá trình thực thi, qua đó hỗ trợ việc điều chỉnh chính sách và nâng cao chất lượng môi trường đầu tư tại thành phố Hải Phòng trong thời gian tới./.
---------------------------------------
1. Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng (2023), Quyết định số 3598/QĐ-BQL ngày 20/7/2023 về việc ban hành Quy trình nội bộ trong giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng.
2. Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng (2023), Báo cáo số 5557/BC-BQL ngày 16/11/2023 về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2023.
3. Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng (2024), Quyết định số 46/QĐ-BQL ngày 04/01/2024 về quy trình nội bộ trong giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của Ban Quản lý.
4. Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng (2024), Kế hoạch số 330/KH-BQL ngày 24/01/2024 về công tác cải cách hành chính năm 2024.
5. Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng (2024), Báo cáo số 5716/BC-BQL ngày 19/12/2024 về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội tháng 12 và năm 2024.
6. Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng (2025), Báo cáo số 6643/BC-BQL ngày 19/11/2025 về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội tháng 12 và 12 tháng năm 2025.
7. Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng (2026), Báo cáo số 3465/BC-BQL ngày 12/6/2026 về tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 06 tháng đầu năm; phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp 06 tháng cuối năm 2026.
8. Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng (2019), Chương trình hành động số 76-CTr/TU ngày 08/7/2019 về thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
9. Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/01/2019 về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
10. Thủ tướng Chính phủ (2023), Quyết định số 323/QĐ-TTg ngày 30/3/2023 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Hải Phòng đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050.
11. Thủ tướng Chính phủ (2023), Quyết định số 1516/QĐ-TTg ngày 02/12/2023 phê duyệt Quy hoạch thành phố Hải Phòng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
12. Thủ tướng Chính phủ (2024), Quyết định số 1511/QĐ-TTg ngày 04/12/2024 về việc thành lập Khu kinh tế ven biển phía Nam Hải Phòng.
13. Trần Văn Hải (2026), “Vận hành chính quyền địa phương hai cấp – Từ thực tiễn phường An Phong, thành phố Hải Phòng”, Tạp chí Quản lý nhà nước, ngày 31/8/2026. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/08/31/van-hanh-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap-tu-thuc-tien-phuong-an-phong-thanh-pho-hai-phong/.
14. Thu Hằng (2026), “Một trưởng phòng quyết quá nhiều việc khác nhau, ‘siêu nhân’ mới không sai phạm” VietNamNet, ngày 09/6/2026. https://vietnamnet.vn/mot-truong-phong-quyet-qua-nhieu-viec-khac-nhau-sieu-nhan-moi-khong-sai-pham-2524090.html.
15. Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2025), Quyết định số 4068/QĐ-UBND ngày 13/10/2025 về việc thành lập Khu thương mại tự do thành phố Hải Phòng.
16. Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2026), Quyết định số 24/2026/QĐ-UBND ngày 13/4/2026 ban hành Quy chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước tại các khu kinh tế, khu công nghiệp trên địa bàn thành phố và Khu thương mại tự do thành phố Hải Phòng.
ThS Trần Văn Hải - Ủy ban nhân dân phường An Phong, thành phố Hải Phòng
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả