Từ khóa: Cạnh tranh nước lớn; quản trị khí hậu toàn cầu; chính sách đối ngoại; thị trường carbon; tự chủ chiến lược.
Abstract: Global climate governance is shifting from a cooperative space for sharing the burden of emission reduction toward an arena of strategic competition among major powers. This article analyses that competition along three axes: rules and institutions, clean energy technologies and supply chains, and climate finance. It then assesses the resulting pressures for Vietnam, using the domestic carbon exchange as a case of institutional adaptation, and proposes five groups of foreign policy implications intended to help Vietnam preserve strategic autonomy within a climate governance architecture that is being reconfigured.
Keywords: Great power competition; global climate governance; foreign policy; carbon market; strategic autonomy.
![]()
1. Đặt vấn đề
Trong gần ba thập niên kể từ khi Công ước khung năm 1992 của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu có hiệu lực từ ngày 21/03/1994 (Việt Nam phê chuẩn Công ước từ ngày 16/11/1994), quản trị khí hậu toàn cầu chủ yếu được hình dung như một bài toán hành động tập thể, nơi các quốc gia thương lượng xem ai gánh chịu bao nhiêu chi phí cắt giảm phát thải. Bức tranh ấy nay đã thay đổi căn bản. Khi năng lượng sạch trở thành ngành công nghiệp trị giá hàng nghìn tỷ đô la Mỹ, khi công nghệ pin, tấm quang điện và khoáng sản thiết yếu trở thành tài sản chiến lược, chính sách khí hậu đã trở thành một bộ phận của cạnh tranh địa kinh tế. Meckling (2025) gọi đây là bước ngoặt địa kinh tế trong quá trình khử carbon, khi các chính phủ trên thế giới đầu tư vào công nghệ sạch không chỉ vì mục tiêu khí hậu mà còn vì phát triển kinh tế và an ninh năng lượng.
Bước ngoặt này diễn ra đồng thời với căng thẳng chiến lược gia tăng giữa các nước lớn. Hoa Kỳ hoàn tất việc rút khỏi Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu ngày 27/01/2026. Liên minh châu Âu đưa Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon vào vận hành đầy đủ từ đầu năm 2026, gắn nghĩa vụ tài chính với hàm lượng phát thải của hàng hóa nhập khẩu. Trung Quốc - nước gây phát thải lớn nhất nhưng đồng thời chi phối chuỗi cung ứng công nghệ sạch, công bố Đóng góp do quốc gia tự quyết định cho năm 2035 vào tháng 9/2025 với cam kết tuyệt đối đầu tiên về giảm phát thải. Ba chuyển động này cho thấy trật tự khí hậu toàn cầu đang được sắp xếp lại theo logic cạnh tranh nhiều hơn là hợp tác.
Đối với một quốc gia đang phát triển, độ mở kinh tế cao và chịu tổn thương lớn từ biến đổi khí hậu như Việt Nam, sự chuyển dịch này đặt ra bài toán kép: vừa bảo vệ không gian phát triển và lợi ích xuất khẩu trước các biện pháp đơn phương gắn thương mại với khí hậu, vừa tận dụng dòng vốn, công nghệ và cơ hội thị trường mà cuộc cạnh tranh ấy tạo ra. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng yêu cầu triển khai hoạt động đối ngoại toàn diện, sáng tạo, hiệu quả, bảo vệ lợi ích quốc gia và dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế, đồng thời đặt chỉ tiêu giảm phát thải khí nhà kính từ 8% đến 9% giai đoạn 2026 đến 2030 (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026).
2. Nhận diện cạnh tranh nước lớn trong quản trị khí hậu toàn cầu
2.1. Từ chia sẻ gánh nặng sang giành giật lợi ích
Cạnh tranh nước lớn trong quản trị khí hậu có thể được hiểu là quá trình các cường quốc sử dụng chương trình nghị sự khí hậu như công cụ mở rộng ảnh hưởng, định hình luật chơi quốc tế và củng cố lợi thế công nghiệp, thay vì chỉ theo đuổi mục tiêu giảm phát thải. Điểm khác biệt nằm ở động cơ: trong khuôn khổ Nghị định thư Kyoto, đàm phán tập trung vào phân bổ chi phí; trong khuôn khổ hậu Thỏa thuận Paris, đàm phán xoay quanh phân bổ lợi ích, gồm thị phần công nghệ, quyền tiếp cận khoáng sản, tiêu chuẩn kỹ thuật và vị thế trong chuỗi giá trị xanh. Mehling (2025) cho rằng chính sách khí hậu đã dịch chuyển từ một mối quan tâm môi trường biệt lập thành chiến trường trung tâm của cạnh tranh địa chính trị, nơi biện pháp thương mại, chính sách công nghiệp và an ninh chuỗi cung ứng quyết định kết quả khí hậu.
Nghịch lý là biến đổi khí hậu đòi hỏi mức độ hợp tác chưa từng có, trong khi đối đầu chiến lược lại làm xói mòn chính khả năng hành động tập thể ấy. Hệ quả là tình trạng phân mảnh, khi các khối kinh tế lớn xây dựng hệ tiêu chuẩn riêng, cơ chế tài chính riêng và mạng lưới cung ứng riêng. Báo cáo Khoảng cách phát thải năm 2025 của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc cho thấy với các chính sách hiện hành, nhiệt độ toàn cầu có thể tăng tới 2,8 độ C trong thế kỷ này; nếu các quốc gia thực hiện đầy đủ cam kết đã công bố thì mức tăng cũng chỉ giảm xuống khoảng 2,3 đến 2,5 độ C, vẫn rất xa ngưỡng 1,5 độ C của Thỏa thuận Paris (UNEP, 2025).
2.2. Cạnh tranh định hình quy tắc và thể chế
Trục cạnh tranh thứ nhất diễn ra ở tầng quy tắc, theo đó ai định nghĩa được thế nào là sản phẩm xanh, thế nào là tín chỉ carbon có chất lượng, thế nào là quy trình đo đạc và thẩm định đáng tin cậy thì nắm quyền phân phối chi phí tuân thủ cho phần còn lại của thế giới. Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu là ví dụ điển hình. Sau giai đoạn chuyển tiếp chỉ yêu cầu báo cáo, cơ chế này vận hành đầy đủ từ ngày 01/01/2026, buộc nhà nhập khẩu vào thị trường châu Âu mua chứng chỉ tương ứng với lượng phát thải gắn trong hàng hóa thuộc các nhóm sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón, điện và hydro. Về thực chất, đó là việc xuất khẩu tiêu chuẩn khí hậu nội khối ra ngoài biên giới pháp lý của khối.
Phản ứng của các nước đang phát triển tại Hội nghị lần thứ 30 các bên tham gia Công ước khung, tổ chức tại Belém, Brazil tháng 11/2025 cho thấy mức độ nhạy cảm của vấn đề. Văn kiện cuối cùng phải thiết lập ba phiên đối thoại thường niên về thương mại và khí hậu, đồng thời tái khẳng định các biện pháp khí hậu không được tạo thành rào cản thương mại mang tính phân biệt đối xử. Tuy nhiên, hội nghị không đạt được lộ trình chuyển đổi khỏi nhiên liệu hóa thạch dù có tới 82 quốc gia ủng hộ. Việc lãnh đạo ba nền kinh tế phát thải lớn nhất là Trung Quốc, Hoa Kỳ và Ấn Độ đều không dự phiên cấp cao Hội nghị này cho thấy các diễn đàn đa phương đang mất dần vai trò là nơi các nước lớn thực sự thương lượng.
Ở chiều ngược lại, cạnh tranh quy tắc cũng mở ra khoảng trống cho các nước tầm trung. Khi cơ chế thị trường theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris được hoàn thiện tại Hội nghị lần thứ 29 ở Baku (thủ đô của Cộng hòa Azerbaijan) năm 2024, các quốc gia có tiềm năng tạo tín chỉ bước vào sân chơi mới, nơi họ thương lượng trực tiếp với từng đối tác.
2.3. Cạnh tranh công nghệ và chuỗi cung ứng
Trục cạnh tranh thứ hai mang tính vật chất trực tiếp. Theo Cơ quan Năng lượng quốc tế, Trung Quốc chiếm hơn 80% năng lực sản xuất toàn cầu ở mọi công đoạn của chuỗi giá trị điện mặt trời, riêng ba công đoạn thượng nguồn tỷ trọng tiệm cận 95%; nước này đã đầu tư hơn 50 tỷ đô la Mỹ vào năng lực sản xuất quang điện kể từ năm 2011, gấp khoảng mười lần mức đầu tư của châu Âu (IEA, 2022). Mức độ tập trung này vừa là nguồn gốc của giá thành thấp giúp năng lượng tái tạo phổ cập nhanh, vừa là rủi ro an ninh kinh tế mà các nước nhập khẩu buộc phải tính đến.
Chính vì vậy, chính sách công nghiệp xanh đã trở thành mặt trận cạnh tranh công khai. Hoa Kỳ dùng trợ cấp và ưu đãi thuế gắn với yêu cầu về hàm lượng nội địa; Liên minh châu Âu theo đuổi tự chủ công nghệ then chốt và đa dạng hóa nguồn cung khoáng sản; Trung Quốc củng cố lợi thế quy mô và kiểm soát khâu tinh luyện. Mehling (2025) cảnh báo việc đa dạng hóa chuỗi cung ứng thông qua thương mại có điều tiết tiềm ẩn nguy cơ tổn thất kinh tế đáng kể vì làm mất hiệu quả của phân công lao động quốc tế. Với các nước đang phát triển, hệ quả là chi phí thiết bị năng lượng tái tạo có thể tăng, đồng thời sức ép lựa chọn nguồn cung theo tiêu chí địa chính trị cũng gia tăng.
2.4. Cạnh tranh trong tài chính khí hậu
Trục cạnh tranh thứ ba nằm ở dòng vốn. Tại Hội nghị Baku năm 2024, các bên thống nhất Mục tiêu định lượng tập thể mới về tài chính khí hậu, nâng mức hỗ trợ hằng năm dành cho các nước đang phát triển từ 100 tỷ lên 300 tỷ đô la Mỹ vào năm 2035, trong tham vọng chung huy động 1.300 tỷ đô la Mỹ mỗi năm từ mọi nguồn công và tư (UNFCCC, 2024). Nhiều nước đang phát triển đánh giá con số này vẫn còn thấp so với nhu cầu, và cơ chế bảo đảm thực hiện vẫn chưa rõ ràng.
Sự mong manh của tài chính khí hậu bộc lộ rõ qua Quan hệ Đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng. Cuối năm 2022, các đối tác quốc tế cam kết huy động 15,5 tỷ đô la Mỹ từ nguồn công và tư trong ba đến năm năm để hỗ trợ Việt Nam chuyển đổi năng lượng; đến tháng 3/2025, Hoa Kỳ thông báo rút khỏi các thỏa thuận thuộc khuôn khổ này tại Việt Nam, Indonesia và Nam Phi. Bài học không phải là từ chối hợp tác quốc tế, mà là không đặt toàn bộ lộ trình chuyển đổi quốc gia lên một nguồn vốn duy nhất.
3. Tác động đối với Việt Nam và trường hợp sàn giao dịch carbon
3.1. Sức ép từ các biện pháp thương mại gắn với khí hậu
Việt Nam là nền kinh tế có độ mở rất cao, trong đó Liên minh châu Âu là một trong những thị trường xuất khẩu chủ lực. Bốn nhóm ngành chịu tác động sớm nhất từ Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon là sắt thép, nhôm, xi măng và phân bón. Từ năm 2026, doanh nghiệp xuất khẩu buộc phải kiểm kê phát thải theo phương pháp được thừa nhận, thuê đơn vị thẩm định độc lập và mua chứng chỉ tương ứng. Chi phí tuân thủ này không phân bổ đều: doanh nghiệp lớn có thể hấp thụ được, còn doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ bị loại khỏi chuỗi cung ứng.
Điểm mấu chốt về chính sách là cơ chế này cho phép khấu trừ phần chi phí carbon mà nhà sản xuất đã trả tại nước xuất khẩu. Nếu Việt Nam không có cơ chế định giá carbon trong nước thì phần giá trị tương ứng sẽ chảy vào ngân sách nước nhập khẩu; nếu có cơ chế vận hành minh bạch và được thừa nhận, phần giá trị ấy được giữ lại để tái đầu tư cho chính quá trình chuyển đổi. Đây là lý do quan trọng nhất đằng sau việc Việt Nam gấp rút xây dựng thị trường carbon nội địa.
3.2. Rủi ro từ sự biến động của nguồn tài chính ưu đãi
Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ từ năm 2021 đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 sau điều chỉnh đặt mục tiêu tỷ trọng năng lượng tái tạo đạt từ 28% đến 36% vào năm 2030 và từ 74% đến 75% vào năm 2050, với nhu cầu vốn giai đoạn 2026 đến 2030 khoảng 136,3 tỷ đô la Mỹ (Thủ tướng Chính phủ, 2025b). Quy mô này vượt xa khả năng cân đối từ ngân sách nhà nước và tín dụng trong nước. Việc một đối tác lớn rút khỏi cam kết tài chính khí hậu, cùng xu hướng các nước phát triển viện dẫn ràng buộc tài khóa để trì hoãn nghĩa vụ tài chính công, cho thấy Việt Nam không thể trông cậy chủ yếu vào viện trợ ưu đãi.
3.3. Sàn giao dịch carbon trong nước, một ứng phó thể chế cụ thể
Quá trình hình thành thị trường carbon Việt Nam là minh chứng cho cách một quốc gia đang phát triển chuyển sức ép bên ngoài thành cải cách bên trong. Ngày 24/01/2025, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà đã ký Quyết định số 232/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Thành lập và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam, xác định lộ trình hai giai đoạn: thí điểm toàn quốc từ năm 2025 đến hết năm 2028 với hạn ngạch phân bổ miễn phí cho các cơ sở phát thải lớn, và vận hành chính thức từ năm 2029 với phương thức phân bổ kết hợp giữa miễn phí và đấu giá. Hàng hóa giao dịch gồm hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon từ các chương trình trong nước cũng như từ cơ chế quốc tế theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris (Thủ tướng Chính phủ, 2025a).
Khung pháp lý tiếp theo là Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2025, quy định phân bổ hạn ngạch theo cường độ phát thải trên đơn vị sản phẩm, gắn với mục tiêu tăng trưởng ngành, mục tiêu giảm phát thải và năng lực của từng cơ sở. Giai đoạn từ năm 2025 đến năm 2026, đối tượng áp dụng là các cơ sở thuộc ba lĩnh vực nhiệt điện, sản xuất sắt thép và sản xuất xi măng (Chính phủ, 2025), đều nằm trong phạm vi điều chỉnh của cơ chế biên giới carbon châu Âu. Đó là sự liên thông có chủ đích giữa chính sách trong nước và áp lực từ thị trường xuất khẩu.
Bước hoàn thiện cuối cùng là Nghị định số 29/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 quy định về sàn giao dịch carbon trong nước, xác lập vai trò của Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội trong tổ chức và vận hành hệ thống giao dịch, Tổng Công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam trong lưu ký và thanh toán, đồng thời miễn phí dịch vụ cho tổ chức tham gia đến hết ngày 31/12/2028 (Chính phủ, 2026). Ngày 29/6/2026, sàn chính thức vận hành với khối lượng hạn ngạch phân bổ cho kỳ tuân thủ đầu tiên hơn 511 triệu đơn vị, giá chào bán tối thiểu 135.000 đồng mỗi đơn vị, sáu công ty chứng khoán đủ điều kiện làm thành viên và hơn 100 cơ sở phát thải tham gia đợt phân bổ đầu tiên.
Trường hợp này mang ba hàm ý đối ngoại. Thứ nhất, Việt Nam đã chủ động tạo lập công cụ định giá carbon của riêng mình trước khi bị buộc chấp nhận mức giá do bên ngoài ấn định, qua đó giữ lại nguồn thu trong nước. Thứ hai, việc đặt sàn giao dịch trong hạ tầng thị trường chứng khoán sẵn có thể hiện cách tiếp cận thực dụng, tận dụng năng lực thể chế hiện hữu thay vì xây mới. Thứ ba, một thị trường vận hành thực tế với số liệu công khai là tài sản đàm phán về khả năng công nhận lẫn nhau giữa các hệ thống định giá carbon.
4. Hàm ý chính sách đối ngoại cho Việt Nam
Một là, kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và đa dạng hóa trong lĩnh vực khí hậu, tránh bị cuốn vào thế lựa chọn bên. Việt Nam cần duy trì hợp tác khí hậu thực chất đồng thời với nhiều đối tác, gồm Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hoa Kỳ và các nước Bắc Âu, trên nguyên tắc lợi ích quốc gia là tiêu chí lựa chọn cao nhất. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới xác định hội nhập quốc tế là động lực quan trọng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, chuyển từ thụ động thích nghi sang chủ động kiến tạo. Tinh thần này cần được cụ thể hóa thành một chiến lược ngoại giao khí hậu riêng, xác định rõ mục tiêu ưu tiên, đối tác trọng điểm và giới hạn nhượng bộ.
Hai là, chuyển trọng tâm ngoại giao khí hậu từ vận động tài trợ sang thương lượng về quy tắc và tiếp cận thị trường. Khi nguồn viện trợ ưu đãi thu hẹp, giá trị lớn nhất mà đối ngoại mang lại nằm ở việc bảo đảm hàng hóa và tín chỉ của Việt Nam được thừa nhận trên các thị trường lớn. Trước hết là đàm phán khả năng khấu trừ chi phí carbon đã trả trong nước khi hàng hóa Việt Nam chịu điều chỉnh bởi cơ chế biên giới của đối tác. Tiếp đó là xây dựng các thỏa thuận song phương theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris với quy định chặt chẽ về điều chỉnh tương ứng, bảo đảm việc chuyển nhượng tín chỉ không làm suy giảm khả năng hoàn thành mục tiêu quốc gia.
Ba là, phát huy vai trò tập hợp lực lượng trong khuôn khổ khu vực. Một quốc gia đơn lẻ khó tạo được sức nặng đàm phán trước các khối kinh tế lớn, nhưng một nhóm quốc gia có lợi ích tương đồng thì có thể. Các nước Đông Nam Á cùng chịu tác động từ cơ chế biên giới carbon, cùng phụ thuộc vào chuỗi cung ứng công nghệ sạch tập trung ở một số ít quốc gia, và cùng cần tiếp cận tài chính khí hậu với chi phí hợp lý. Việt Nam có thể thúc đẩy lập trường chung của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á về các biện pháp thương mại đơn phương gắn với khí hậu, đồng thời đẩy nhanh kết nối lưới điện khu vực và hài hòa hóa tiêu chuẩn kiểm kê phát thải.
Bốn là, gắn chặt đối ngoại với năng lực thực thi trong nước, bởi vị thế đàm phán suy cho cùng được quyết định bởi thực lực. Kinh nghiệm từ sàn giao dịch carbon cho thấy một cơ chế trong nước vận hành thật sự có sức thuyết phục hơn nhiều so với cam kết trên giấy. Theo hướng đó, cần hoàn thiện hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải đạt chuẩn quốc tế; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về kiểm kê và chi phí thẩm định; sớm triển khai Đóng góp do quốc gia tự quyết định cập nhật, nhất quán với chỉ tiêu giảm phát thải từ 8% đến 9% giai đoạn từ năm 2026 đến năm 2030.
Năm là, xây dựng năng lực dự báo và quản trị rủi ro địa chính trị trong lĩnh vực khí hậu. Việc Hoa Kỳ rút khỏi Thỏa thuận Paris và khỏi khuôn khổ đối tác chuyển đổi năng lượng cho thấy cam kết quốc tế có thể đảo chiều theo chu kỳ chính trị nội bộ của nước đối tác. Do đó, mọi kế hoạch chuyển đổi năng lượng quốc gia cần được thiết kế theo nhiều kịch bản, với giả định một phần nguồn lực bên ngoài có thể không đến đúng hạn. Bộ máy nghiên cứu và tham mưu đối ngoại cũng cần được bổ sung năng lực phân tích liên ngành, kết hợp quan hệ quốc tế, kinh tế năng lượng và luật pháp môi trường quốc tế.
5. Kết luận
Quản trị khí hậu toàn cầu đã bước vào giai đoạn mới, nơi hợp tác và cạnh tranh đan xen chặt chẽ. Ba trục cạnh tranh về quy tắc, công nghệ và tài chính đang định hình lại luật chơi theo hướng có lợi cho những chủ thể nắm quyền đặt tiêu chuẩn và kiểm soát chuỗi cung ứng, làm chậm tiến độ giảm phát thải toàn cầu và đặt các nước đang phát triển trước nguy cơ gánh chi phí chuyển đổi mà không được chia sẻ tương xứng về lợi ích.
Đối với Việt Nam, tình thế ấy vừa là thách thức vừa là cơ hội. Thách thức nằm ở chi phí tuân thủ gia tăng, ở sự bất định của nguồn tài chính ưu đãi và ở sức ép phải lựa chọn trong một môi trường quốc tế phân cực. Cơ hội nằm ở chỗ chính sức ép bên ngoài có thể trở thành động lực đẩy nhanh những cải cách vốn cần thiết cho phát triển bền vững. Việc vận hành sàn giao dịch carbon trong nước từ ngày 29/6/2026 cho thấy một nước đang phát triển hoàn toàn có thể chủ động kiến tạo công cụ chính sách của riêng mình. Chính sách đối ngoại của Việt Nam trong lĩnh vực khí hậu vì vậy cần đặt trên nền tảng tự chủ chiến lược, đa dạng hóa quan hệ, chuyển trọng tâm sang thương lượng quy tắc và gắn chặt với năng lực thực thi trong nước./.
----------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
2. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
3. Chính phủ (2025), Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô dôn.
4. Chính phủ (2026), Nghị định số 29/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 quy định về sàn giao dịch các bon trong nước.
5. Thủ tướng Chính phủ (2025a), Quyết định số 232/QĐ-TTg ngày 24/01/2025 phê duyệt Đề án Thành lập và phát triển thị trường các bon tại Việt Nam.
6. Thủ tướng Chính phủ (2025b), Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 đến 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
7. Meckling, J (2025), The geoeconomic turn in decarbonization, Nature, vol. 645, no. 8082, doi: 10.1038/s41586-025-09416-x.
8. Mehling, M. A (2025), In the Vortex of Great Power Competition: Climate, Trade, and Geostrategic Rivalry in U.S., China and EU Relations, Harvard Project on Climate Agreements, Harvard Kennedy School, Cambridge.
9. International Energy Agency (2022), Solar PV Global Supply Chains: Special Report, IEA, Paris.
10. United Nations Environment Programme (2025), Emissions Gap Report 2025: Off Target, UNEP, Nairobi.
11. United Nations Framework Convention on Climate Change (2024), COP29 UN Climate Conference Agrees to Triple Finance to Developing Countries, Protecting Lives and Livelihoods, Baku.
Trần Hương Giang - Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả