Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Nâng cao quyền tiếp cận thông tin của người dân đáp ứng yêu cầu đổi mới và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia

Ngày đăng: 30/09/2026   15:15
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của người dân và quản trị quốc gia. Kết quả nghiên cứu của bài viết khẳng định vai trò trụ cột của quyền tiếp cận thông tin đối với quản trị quốc gia trên ba phương diện: là nội dung cấu thành, là giải pháp thúc đẩy hiệu quả quản trị quốc gia và là thước đo đánh giá hiệu quả quản trị quốc gia, quản trị địa phương. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích các định hướng hoàn thiện quyền tiếp cận thông tin trong bối cảnh đổi mới và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia ở Việt Nam hiện nay.

Từ khoá: Quản trị quốc gia; Tiếp cận thông tin; Tham gia của người dân.

Abstract: This article focuses on examining the relationship between citizens’ right of access to information and national governance. The research findings affirm the pivotal role of the right of access to information in national governance in three respects: as a constituent element of governance, as a means of enhancing the effectiveness of national governance, and as a measure for assessing the effectiveness of national and local governance. On this basis, the article analyzes orientations for improving the right of access to information in the context of reforming and enhancing the effectiveness of national governance in Vietnam today.

Keywords: National governance; Access to information; Citizen participation.

1. Khái quát chung về quyền tiếp cận thông tin của người dân

1.1. Khái niệm quyền tiếp cận thông tin của người dân

Trong khoa học pháp lý và khoa học hành chính, quyền tiếp cận thông tin được nhìn nhận là một trong những quyền con người, quyền công dân cơ bản. Dưới góc độ quyền con người, quyền công dân, tiếp cận thông tin là tiền đề để thụ hưởng và thực thi các quyền tự do dân chủ khác như quyền tự do ngôn luận, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, quyền ứng cử, bầu cử,... Dưới góc độ pháp lý, quyền tiếp cận thông tin phản ánh mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và công dân: công dân có quyền chủ động tìm kiếm, yêu cầu, tiếp nhận thông tin từ cơ quan nhà nước; Nhà nước có nghĩa vụ pháp lý trong việc minh bạch hóa thông tin, chủ động công khai và cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho công dân.

Tại Việt Nam, quyền tiếp cận thông tin đã được khẳng định tại Điều 25 của Hiến pháp năm 2013 “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” [5]. Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, tại khoản 3, Điều 2 của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 giải thích “Tiếp cận thông tin là việc đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin” [6]. Trong khi đó, khoản 1, Điều 2 của Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 nhấn mạnh “Tiếp cận thông tin là việc đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp, tải về thông tin” [7]. Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 đã bổ sung thêm cụm từ “tải thông tin”. Việc bổ sung nội dung này cũng phù hợp với sự phát triển của cách mạng công nghiệp 4.0. Bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đòi hỏi dữ liệu phải sẵn sàng ở dạng số. Việc thêm hành vi “tải về” phản ánh nhu cầu thực tế của người dân khi khai thác dữ liệu mở trên các cổng thông tin điện tử, ứng dụng số thay vì chỉ xem hoặc chụp ảnh thủ công như trước đây.

Quyền tiếp cận thông tin là quyền cơ bản của con người, quyền hiến định của công dân, theo đó người dân được tự do tìm kiếm, yêu cầu, tiếp nhận, khai thác và sử dụng các thông tin, dữ liệu do cơ quan nhà nước tạo ra hoặc nắm giữ theo trình tự, thủ tục luật định (trừ các thông tin bị hạn chế hoặc cấm theo quy định của pháp luật) nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả trong quản trị nhà nước và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

1.2. Nội dung quyền tiếp cận thông tin của người dân

Theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2026, quyền tiếp cận thông tin được khái quát thành 2 quyền cụ thể sau đây:

1.2.1. Quyền được công khai thông tin

Quyền được công khai thông tin là quyền công dân được chủ động tiếp cận những thông tin mà cơ quan, đơn vị có trách nhiệm công khai mà không phải thực hiện thủ tục yêu cầu riêng, qua đó bảo đảm khả năng tiếp cận thông tin một cách bình đẳng, chủ động và thuận lợi. Về phương diện pháp lý, Điều 17 của Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 xác định nhiều nhóm thông tin phải được công khai như văn bản quy phạm pháp luật; chương trình, kế hoạch công tác hằng năm của cơ quan, đơn vị; Thông tin về kế hoạch sử dụng đất; giá đất; thu hồi đất; Thông tin chung về cơ sở giáo dục; Thu, chi tài chính của cơ sở giáo dục,… [7]. Các thông tin công khai này đều gắn với nhu cầu sử dụng trong đời sống hằng ngày của người dân. Quyền tiếp cận thông tin còn được thể hiện thông qua việc quy định các hình thức và thời điểm công khai thông tin để người dân có thể dễ dàng tiếp cận. Việc công khai được thực hiện bằng nhiều hình thức như Đăng tải trên cổng thông tin điện tử, Công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, đăng công báo, niêm yết,… và các hình thức thuận lợi khác [7]. Do đó, nội dung của quyền không chỉ dừng ở khả năng “biết” thông tin mà còn bao hàm khả năng tiếp cận thông tin một cách thuận lợi, kịp thời và phù hợp với điều kiện của công dân.

1.2.2. Quyền được yêu cầu cung cấp thông tin khi có nhu cầu

Đây là quyền chủ động của người dân trong việc đề nghị cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức cung cấp những thông tin thuộc phạm vi pháp luật cho phép khi thông tin chưa được công khai, không thể tiếp cận qua hình thức công khai hoặc gắn trực tiếp với đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người yêu cầu hoặc công khai chưa đầy đủ. Điều 23 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 quy định tương đối rộng phạm vi thông tin được cung cấp theo yêu cầu như Thông tin trong thời hạn công khai nhưng chưa được công khai; Thông tin hết thời hạn công khai theo quy định của pháp luật,… [7]. Quyền này được thực hiện thông qua nhiều hình thức như Tại cơ quan, đơn vị; Qua dịch vụ bưu chính; Qua mạng Internet [7]. Quyền yêu cầu cung cấp thông tin là cơ chế bổ sung và bảo đảm tính thực chất của quyền tiếp cận thông tin, giúp người dân có khả năng tiếp cận cả những thông tin mà cơ chế công khai chưa đáp ứng được.

2.2 Vai trò của quyền tiếp cận thông tin của người dân đối với quản trị quốc gia

2.1. Là một nội dung quan trọng trong quản trị quốc gia

Quản trị quốc gia là quá trình thực thi quyền lực kinh tế, chính trị và hành chính để quản lý các công việc của một đất nước một cách hiệu quả. Khác với tư duy “quản lý nhà nước” truyền thống mang tính tập trung, mệnh lệnh đơn phương từ trên xuống, quản trị quốc gia hiện đại coi trọng sự tương tác, phối hợp giữa ba trụ cột: Nhà nước, xã hội và thị trường, “Nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn giữa Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ; giữa nhà nước, thị trường và xã hội” [2]. Việc mở rộng quyền tiếp cận thông tin đóng vai trò là trung tâm kết nối các chủ thể này, bảo đảm thông tin chính sách, dữ liệu được lưu thông thông suốt, tạo lập niềm tin và nền tảng cho sự hợp tác công - tư trong quản trị đất nước. Quản trị nhà nước dựa trên 4 nền tảng cơ bản, bao gồm: sự tham gia, trách nhiệm giải trình, sự minh bạch và trách nhiệm của Nhà nước. Như vậy, tiếp cận thông tin chính là biểu hiện của việc công khai minh bạch, là một yếu tố cấu thành quan trọng của quản trị nhà nước.

Trong cấu trúc quản trị quốc gia hiện đại, quyền tiếp cận thông tin của người dân không chỉ là một quyền độc lập mà là nội dung cấu thành cốt lõi. Không thể có một nền quản trị dân chủ và hiện đại nếu thiếu đi tính minh bạch và sự tham gia của người dân dựa trên cơ sở thông tin đầy đủ, chính xác. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã khẳng định rõ yêu cầu “có cơ chế bảo đảm thực hiện quyền của Nhân dân tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết, phản hồi ý kiến, kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo của Nhân dân” [2]. Việc cụ thể hóa phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” bắt buộc phải lấy việc tiếp cận thông tin của người dân làm bước khởi đầu. “Dân biết” chính là điểm tựa để thực hiện “dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát”.

2.2. Là biện pháp/giải pháp thúc đẩy và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin là giải pháp mang tính đột phá để nâng cao chất lượng và hiệu quả của bộ máy quản trị quốc gia bởi nó có liên quan mật thiết đến các nội dung còn lại của quản trị nhà nước “quyền tiếp cận thông tin của người dân là quyền cơ bản có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm dân chủ, nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước” [1]. Vai trò này thể hiện trên các khía cạnh:

Một là, thúc đẩy, nâng cao việc thực hiện trách nhiệm giải trình của nhà nước

Tiếp cận thông tin tạo cơ sở để hình thành và thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Việc giải trình chỉ có thể được thực hiện có hiệu quả khi các thông tin liên quan đến quyết định, hoạt động và kết quả thực hiện nhiệm vụ được cung cấp cho người dân và các chủ thể có liên quan. Thông tin giúp người dân biết cơ quan nhà nước đã thực hiện những gì, căn cứ vào đâu, kết quả đạt được như thế nào và những vấn đề nào cần được làm rõ. Trên cơ sở đó, người dân có thể đặt câu hỏi, yêu cầu cung cấp thông tin, đề nghị giải thích và theo dõi việc thực hiện các cam kết của cơ quan nhà nước. Việc cơ quan nhà nước chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời cũng góp phần nâng cao chất lượng giải trình, tăng khả năng kiểm chứng thông tin và củng cố mối quan hệ trách nhiệm giữa cơ quan nhà nước với người dân.

Hai là, thúc đẩy và nâng cao hiệu quả tham gia của người dân

Tiếp cận thông tin là điều kiện quan trọng để người dân có khả năng tham gia thực chất vào quá trình quản trị nhà nước, bởi sự tham gia chỉ có ý nghĩa khi người dân có đầy đủ thông tin cần thiết về chính sách, pháp luật, chương trình và hoạt động của cơ quan nhà nước. Khi được cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ và dễ tiếp cận, người dân có cơ sở để nhận biết vấn đề, hình thành ý kiến, tham gia góp ý, phản biện và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật. Đồng thời, thông tin giúp người dân hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và phương thức tham gia, từ đó nâng cao tính chủ động trong tương tác với cơ quan nhà nước. Việc bảo đảm tiếp cận thông tin vì vậy góp phần mở rộng các hình thức tham gia, nâng cao chất lượng ý kiến của người dân và tạo cơ sở để cơ quan nhà nước tiếp thu, phản hồi các ý kiến phù hợp trong quá trình quản trị nhà nước.

Ba là, nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước

Quản trị nhà nước và nâng cao quản trị nhà nước đang là một yêu cầu quan trọng trong quá trình phát triển đất nước “Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đổi mới quản trị quốc gia không chỉ là yêu cầu cấp bách nhằm tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế và các lĩnh vực khác mà còn là động lực quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của đất nước” [4]. Trong đó, tiếp cận thông tin đóng góp rất lớn cho việc nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia. Thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời là cơ sở để cơ quan nhà nước nhận diện đúng nhu cầu xã hội, hoạch định chính sách phù hợp và tổ chức thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả. Khi thông tin được công khai và người dân có khả năng tiếp cận, cơ quan nhà nước có điều kiện tiếp nhận ý kiến, phản hồi và giám sát từ xã hội để kịp thời điều chỉnh phương thức quản lý, hạn chế những bất cập trong quá trình thực hiện. Đồng thời, việc cung cấp thông tin giúp tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, nâng cao tính minh bạch trong hoạt động công vụ và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực. Đối với người dân, khả năng tiếp cận thông tin giúp hiểu rõ chính sách, chủ động thực hiện quyền và nghĩa vụ, từ đó giảm chi phí và thời gian trong quá trình tương tác với cơ quan nhà nước. Qua đó, tiếp cận thông tin góp phần nâng cao chất lượng quyết định quản lý, hiệu quả tổ chức thực hiện và kết quả phục vụ người dân của bộ máy nhà nước. Có thể nói rằng việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân là nhân tố quan trọng để góp phần nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia mà Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đã nhấn mạnh “Xây dựng hệ thống quản lý nhà nước, quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, phục vụ và kiến tạo phát triển, xây dựng chính phủ số, chính quyền số” [3, tr. 129] và “xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả” [3, tr. 126].

2.3. Là thước đo/tiêu chí đánh giá hiệu quả quản trị quốc gia

Hiệu quả quản trị quốc gia không chỉ thể hiện qua tốc độ tăng trưởng kinh tế, mà còn thể hiện qua chất lượng phục vụ nhân dân và mức độ công khai, minh bạch của bộ máy nhà nước. Quyền tiếp cận thông tin chính là thước đo định lượng và định tính quan trọng để đánh giá năng lực quản trị của quốc gia nói chung và quản trị địa phương nói riêng. Trong các bộ chỉ số đánh giá quản trị quốc gia và hành chính công tại Việt Nam hiện nay như Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh (PAPI), Chỉ số Cải cách Hành chính (PAR Index), Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), … các tiêu chí về “Công khai, minh bạch”, “Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân” luôn chiếm tỷ trọng điểm số lớn. Một địa phương có chỉ số tiếp cận thông tin cao thường đi kèm với môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, tỷ lệ tham nhũng thấp và mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ công cao. Ngoài ra, việc bảo đảm thực chất quyền tiếp cận thông tin phản ánh mức độ hoàn thiện của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Điều này thể hiện xu hướng chuyển từ mô hình “Chính phủ quản lý/điều hành” sang mô hình “Chính phủ kiến tạo, kiến thiết”.  

3. Định hướng nâng cao quyền tiếp cận thông tin của người dân trong bối cảnh đổi mới và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia

Quyền tiếp cận thông tin giữ vai trò quan trọng trong việc đổi mới và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia trong bối cảnh hiện nay, do đó Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc thực hiện quyền này. Dựa trên các quan điểm của Đảng, Nhà nước và mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và quản trị quốc gia, chúng tôi khái quát một số định hướng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin thực chất, bình đẳng và thuận lợi cho người dân

Định hướng này trước hết là chuyển từ yêu cầu bảo đảm quyền tiếp cận thông tin về mặt pháp lý sang bảo đảm khả năng tiếp cận thông tin thực chất trong đời sống xã hội. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đã nhấn mạnh “Thực hiện đầy đủ các quyền dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở; chống các biểu hiện dân chủ hình thức” [3, tr. 121-122]. Việc thực hiện dân chủ cần phải gắn với tính thực chất, đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân. Điều này đòi hỏi cơ quan nhà nước chủ động công khai, cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời, dễ hiểu và phù hợp với nhu cầu của người dân. Đồng thời giảm thiểu các rào cản về thủ tục, thời gian, chi phí và khả năng tiếp cận thông tin. Quyền tiếp cận thông tin cần được bảo đảm thống nhất đối với các nhóm dân cư, đồng thời chú trọng những người có điều kiện tiếp cận thông tin còn hạn chế. Định hướng này gắn với yêu cầu cải cách hành chính lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm và nâng cao chất lượng phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước.

Thứ hai, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng hệ sinh thái thông tin công khai và kết nối

Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, nâng cao quyền tiếp cận thông tin cần gắn với hiện đại hóa phương thức công khai và cung cấp thông tin, hình thành môi trường thông tin thống nhất, liên thông, thuận tiện và có khả năng phục vụ người dân mọi lúc, mọi nơi bởi “sự phát triển nhanh chóng của dữ liệu số, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và các nền tảng số đã làm thay đổi phương thức tạo lập, lưu trữ, quản lý và cung cấp thông tin” [1]. Vì vậy quyền tiếp cận thông tin cũng cần thay đổi, thích ứng với bối cảnh chuyển đổi số. Để làm được điều này, đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải khai thác cơ sở dữ liệu, cổng thông tin điện tử, cổng dữ liệu, nền tảng số và các phương thức tương tác trực tuyến để mở rộng khả năng tiếp cận thông tin, đồng thời bảo đảm tính chính xác, cập nhật, khả năng tra cứu và sử dụng thông tin. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu số trong quản lý nhà nước là vấn đề cần được ưu tiên thực hiện trong thời gian tới. Định hướng này cũng phù hợp với đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được đề cập trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV và nội dung xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 của Chính phủ.

Thứ ba, gắn quyền tiếp cận thông tin với nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia và trách nhiệm của Nhà nước

Quyền tiếp cận thông tin trong bối cảnh hiện nay cần được nhìn nhận không chỉ là một quyền dân sự - chính trị độc lập mà còn là một cơ chế hỗ trợ người dân tham gia, giám sát và tương tác với Nhà nước, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia. Vì vậy, việc bảo đảm quyền này cần gắn với nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong công khai thông tin, cung cấp thông tin theo yêu cầu, giải trình, tiếp nhận phản hồi và điều chỉnh hoạt động quản lý trên cơ sở thông tin từ xã hội. Khi thông tin được bảo đảm, người dân có điều kiện tham gia có chất lượng hơn vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách, đồng thời cơ quan nhà nước có thêm cơ sở để nhận diện nhu cầu xã hội và cải thiện chất lượng quyết định quản lý. Định hướng này phù hợp với yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị và cải cách hành chính trong giai đoạn 2026-2030. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức cần nhận thức được tầm quan trọng của tiếp cận thông tin đối với quản trị quốc gia và yêu cầu của việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin trong tình hình mới.

Kết luận

Bảo đảm và nâng cao quyền tiếp cận thông tin của người dân vừa là yêu cầu khách quan của công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vừa là động lực thúc đẩy quản trị quốc gia hiện đại, minh bạch và hiệu quả tại Việt Nam. Quyền tiếp cận thông tin giữ vị trí trung tâm trong việc kết nối Nhân dân với bộ máy nhà nước, biến phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” thành thực chất, hiệu quả và bền vững.

Trước bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với các định hướng chiến lược được nêu rõ trong các Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, việc hoàn thiện thể chế pháp lý, nâng cao năng lực phục vụ của bộ máy nhà nước và đẩy mạnh hạ tầng dữ liệu số sẽ là những giải pháp đột phá. Thực hiện tốt quyền tiếp cận thông tin không chỉ bảo đảm quyền làm chủ thực chất của Nhân dân mà còn tạo nguồn sức mạnh đại đoàn kết, củng cố niềm tin xã hội, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.

Tài liệu tham khảo

1. Đoàn Thái An (2026), Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong kỷ nguyên mới, Tạp chí Quản lý nhà nước, Truy xuất từ https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/05/05/bao-dam-quyen-tiep-can-thong-tin-cua-nguoi-dan-trong-ky-nguyen-moi/

2. Ban chấp hành Trung ương Đảng (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, Hà Nội

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tập 1, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật

4. Trần Bá Hùng (2026), Đổi mới quản trị quốc gia theo tinh thần Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động, Truy xuất từ https://tcnnld.vn/news/detail/71733/Doi-moi-quan-tri-quoc-gia-theo-tinh-than-Van-kien-Dai-hoi-Dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-XIV-cua-Dang.html.

5. Quốc hội (2013), Hiến pháp, Hà Nội.

6. Quốc hội (2016), Luật Tiếp cận thông tin, Hà Nội.

7. Quốc hội (2026), Luật Tiếp cận thông tin, Hà Nội.

TS Trần Bá Hùng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM

Bài viết cùng tác giả