Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Thực thi chính sách hỗ trợ việc làm cho thanh niên nông thôn tại xã Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

Ngày đăng: 01/10/2026   10:17
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Bài viết phân tích thực trạng thực thi chính sách hỗ trợ việc làm cho thanh niên nông thôn tại xã Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, trên cơ sở khảo sát thanh niên và cán bộ thực thi chính sách. Kết quả nghiên cứu cho thấy chính sách đã từng bước hỗ trợ thanh niên tiếp cận thông tin việc làm, đào tạo nghề, tư vấn và kết nối việc làm; tuy nhiên quá trình thực thi vẫn còn những hạn chế trong đáp ứng nhu cầu việc làm, đào tạo kỹ năng, tiếp cận nguồn lực và kết nối với doanh nghiệp, thị trường lao động. Đó là cơ sở để nhận diện, làm rõ những “điểm nghẽn” chủ yếu và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, tăng khả năng tiếp cận việc làm và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thanh niên nông thôn tại địa phương.

Từ khóa: Chính sách hỗ trợ việc làm; điểm nghẽn; Sơn Dương; thanh niên nông thôn; thị trường lao động; thực thi chính sách.

Abstract: This article analyzes the implementation of employment support policies for rural youth in Son Duong Commune, Tuyen Quang Province, based on surveys of young people and policy implementation officials. The findings show that the policies have gradually supported young people in accessing employment information, vocational training, career counseling, and employment services. However, implementation remains constrained by limitations in meeting employment needs, providing skills training, accessing resources, and connecting young people with enterprises and the labor market. On this basis, the article identifies the major “bottlenecks” and proposes several directions for reform to improve policy implementation, expand access to employment opportunities, and better meet the needs of rural youth in the locality.

Keywords: Employment support policies; bottlenecks; Son Duong; rural youth; labor market; policy implementation.

1. Đặt vấn đề

Việc làm có ý nghĩa quan trọng đối với thanh niên nông thôn, góp phần bảo đảm thu nhập, ổn định đời sống và tạo điều kiện để phát huy nguồn nhân lực trẻ và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Trong bối cảnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi nhu cầu của thị trường lao động và yêu cầu ngày càng cao về kỹ năng nghề nghiệp, việc hỗ trợ thanh niên nông thôn tiếp cận việc làm trở thành nội dung cần được quan tâm trong thực thi chính sách công. Ở Việt Nam, khung pháp lý về thanh niên và việc làm đã từng bước được hoàn thiện. Luật Thanh niên năm 2020 xác định các chính sách của Nhà nước đối với thanh niên theo hướng tạo điều kiện để thanh niên học tập, lao động, lập nghiệp và phát triển (Quốc hội, 2020). Luật Việc làm số 74/2025/QH15 ban hành ngày 16/6/2025 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về việc làm, thị trường lao động và các chính sách hỗ trợ liên quan (Quốc hội, 2025). Chương trình “Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp” giai đoạn 2022 - 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 897/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 cho thấy định hướng tăng cường hỗ trợ thanh niên phát triển sản xuất, kinh doanh và tạo việc làm (Thủ tướng Chính phủ, 2022).

Tại xã Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, các hoạt động hỗ trợ việc làm cho thanh niên đã được triển khai với nhiều hình thức như cung cấp thông tin, tư vấn và định hướng nghề nghiệp, đào tạo nghề, kết nối việc làm, hỗ trợ vốn và phát triển sinh kế. Thực tiễn cho thấy khả năng tiếp cận và thụ hưởng các chính sách của thanh niên còn chưa đồng đều; sự gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu tuyển dụng, giữa thanh niên với doanh nghiệp và thị trường lao động còn những hạn chế nhất định. Bên cạnh nguồn lực và năng lực tổ chức thực thi chính sách cũng đặt ra những yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện.

2. Một số vấn đề lý luận về thực thi chính sách hỗ trợ việc làm cho thanh niên nông thôn

Việc làm của thanh niên là một trong những vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, bởi quá trình chuyển tiếp từ giáo dục, đào tạo sang thị trường lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, khả năng tự chủ kinh tế và triển vọng phát triển của thế hệ trẻ. Đối với thanh niên nông thôn, vấn đề này có những đặc thù riêng do cơ hội việc làm tại địa phương thường hạn chế hơn, khả năng tiếp cận thông tin, đào tạo, nguồn vốn và các dịch vụ thị trường lao động còn chưa đồng đều. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng thanh niên nông thôn thường phải đối mặt với những hạn chế về phát triển kỹ năng, tiếp cận các nguồn lực sản xuất và cơ hội việc làm có chất lượng; vì vậy, chính sách việc làm cần đồng thời tác động đến cả phía cung, cầu lao động và khả năng kết nối giữa hai phía (ILO, 2024).

Từ góc độ chính sách công, chính sách hỗ trợ việc làm cho thanh niên nông thôn có thể được hiểu là tổng thể các quan điểm, mục tiêu, giải pháp và công cụ do Nhà nước cùng các chủ thể có liên quan xây dựng và tổ chức thực hiện nhằm tạo điều kiện để thanh niên nông thôn tiếp cận thông tin việc làm, nâng cao năng lực nghề nghiệp, tìm kiếm và duy trì việc làm, tự tạo việc làm hoặc phát triển sinh kế phù hợp với điều kiện của địa phương và nhu cầu của thị trường lao động.

Đối với khu vực nông thôn, chính sách hỗ trợ việc làm cần tính đến đặc điểm của nền kinh tế và thị trường lao động địa phương. Các chương trình hỗ trợ không chỉ hướng tới đào tạo nghề mà còn cần gắn đào tạo với nhu cầu tuyển dụng, phát triển doanh nghiệp và các ngành nghề phù hợp với địa bàn. Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) nhấn mạnh sự cần thiết của các sáng kiến việc làm dành cho thanh niên tại khu vực nông thôn và ngoài đô thị phải có tính địa phương, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và những rào cản cụ thể của từng địa bàn (OECD, 2024).

Trên cơ sở tiếp cận ở trên, thực thi chính sách hỗ trợ việc làm cho thanh niên nông thôn được hiểu là quá trình các cơ quan nhà nước và các chủ thể có liên quan tổ chức triển khai các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp hỗ trợ việc làm đã được xác định, thông qua việc tuyên truyền, hướng dẫn, phân công trách nhiệm, huy động nguồn lực, phối hợp, kiểm tra và điều chỉnh nhằm tạo ra kết quả việc làm cụ thể cho thanh niên nông thôn. Theo đó, nội dung thực thi chính sách hỗ trợ việc làm cho thanh niên nông thôn có thể được xem xét qua sáu nội dung sau:

Thứ nhất, hỗ trợ thông tin, tư vấn và định hướng việc làm. Đây là khâu đầu tiên giúp thanh niên nhận biết các cơ hội việc làm, yêu cầu của thị trường lao động và những chính sách mà mình có thể tiếp cận. Thông tin càng đầy đủ, dễ tiếp cận và phù hợp với đặc điểm của thanh niên thì khả năng tham gia các chương trình hỗ trợ càng cao. OECD nhấn mạnh vai trò của các dịch vụ hỗ trợ thanh niên trong quá trình chuyển tiếp vào thị trường lao động, đặc biệt đối với những nhóm có nguy cơ gặp bất lợi trong tiếp cận việc làm (OECD, 2024).

Thứ hai, hỗ trợ đào tạo nghề và phát triển kỹ năng. Đào tạo nghề giúp nâng cao năng lực nghề nghiệp, khả năng thích ứng và mức độ phù hợp của thanh niên với yêu cầu tuyển dụng. Tuy nhiên, đào tạo chỉ phát huy hiệu quả khi nội dung, phương thức và kỹ năng được đào tạo gắn với nhu cầu thực tế của thị trường lao động. ILO nhấn mạnh việc phát triển kỹ năng cho thanh niên cần được gắn với nhu cầu của thị trường và quá trình chuyển tiếp từ đào tạo sang việc làm (ILO, 2025).

Thứ ba, hỗ trợ tư vấn, giới thiệu và kết nối việc làm. Nội dung này tạo cầu nối giữa người tìm việc và đơn vị tuyển dụng thông qua tư vấn nghề nghiệp, cung cấp thông tin tuyển dụng, giới thiệu việc làm, tổ chức các hoạt động giao lưu, tuyển dụng và hỗ trợ kỹ năng tìm việc. Đối với thanh niên nông thôn, hoạt động kết nối có ý nghĩa đặc biệt bởi khoảng cách địa lý và hạn chế về thông tin có thể làm gia tăng chi phí tìm kiếm việc làm.

Thứ tư, hỗ trợ tín dụng, sản xuất và phát triển sinh kế. Không phải thanh niên nào cũng lựa chọn việc làm hưởng lương; một bộ phận có nhu cầu sản xuất, kinh doanh hoặc phát triển sinh kế tại địa phương. Vì vậy, hỗ trợ tín dụng, hướng dẫn sử dụng vốn, phát triển mô hình sản xuất và mở rộng thị trường là một bộ phận của chính sách việc làm. OECD và ILO đều xem hỗ trợ khởi nghiệp, tự tạo việc làm và tiếp cận nguồn lực là những thành tố quan trọng trong chính sách việc làm cho thanh niên.

Thứ năm, hỗ trợ tự tạo việc làm và khởi nghiệp. Nội dung này hướng tới việc nâng cao khả năng chủ động tạo việc làm của thanh niên thông qua tư vấn ý tưởng kinh doanh, đào tạo kỹ năng quản trị, hỗ trợ vốn và kết nối thị trường. Với thanh niên nông thôn, tự tạo việc làm có thể gắn với nông nghiệp, dịch vụ, sản xuất quy mô hộ gia đình, kinh tế số hoặc các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp ở nông thôn.

Thứ sáu, hỗ trợ kết nối thanh niên với doanh nghiệp và thị trường lao động. Đây là nội dung có tính liên kết, giúp chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang kết nối cung - cầu lao động. ILO cho rằng giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn cần sự phối hợp hiệu quả giữa các chủ thể nhằm khắc phục những thiếu hụt về cung, cầu lao động và khả năng kết nối giữa hai phía (ILO, 2024).

3. Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng mô tả kết hợp phân tích chính sách. Dữ liệu khảo sát gồm hai nhóm: 120 thanh niên nông thôn và 30 cán bộ thực thi chính sách tại địa bàn xã Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Phiếu dành cho thanh niên tập trung vào tình trạng việc làm, khó khăn khi tìm kiếm hoặc duy trì việc làm, mức độ biết và tiếp cận các chương trình hỗ trợ, kênh thông tin, đánh giá các nhóm hỗ trợ và nhu cầu hỗ trợ trong thời gian tới. Phiếu dành cho cán bộ tập trung vào tiếp cận thông tin chính sách, tổ chức thực hiện, nguồn lực, phối hợp liên ngành, các hình thức hỗ trợ và những hạn chế trong thực thi.

Đối với các câu hỏi đánh giá theo thang Likert năm mức, nghiên cứu sử dụng tỷ lệ lựa chọn ở từng mức và nhóm mức 4 - 5 để nhận diện mức đánh giá tương đối tích cực. Đối với các câu hỏi nhiều lựa chọn, tổng tỷ lệ có thể vượt 100% do người trả lời được lựa chọn nhiều phương án. Phân tích không nhằm suy rộng thống kê cho toàn bộ thanh niên của tỉnh Tuyên Quang mà nhằm nhận diện xu hướng và “điểm nghẽn” trong phạm vi địa bàn khảo sát. Việc sử dụng hai nhóm đối tượng giúp đối chiếu giữa góc nhìn của đối tượng thụ hưởng và góc nhìn của chủ thể thực thi. Đây là điểm quan trọng bởi một chính sách có thể được cán bộ đánh giá là đã tổ chức đầy đủ nhưng người thụ hưởng lại chưa nhận được kết quả tương ứng. Sự khác biệt giữa hai nhóm phản ánh khoảng cách thực thi và cung cấp cơ sở để xác định vấn đề cần cải thiện.

Bảng 1. Tình trạng việc làm của 120 thanh niên được khảo sát

Có việc làm ổn định

39

32,5

Có việc làm nhưng chưa ổn định

32

26,7

Làm việc thời vụ

10

8,3

Thất nghiệp và đang tìm việc

25

20,8

Thất nghiệp nhưng chưa tìm việc

14

11,7

Tổng

120

100,0

Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả, 2026

Kết quả cho thấy chỉ 32,5% thanh niên trong mẫu có việc làm ổn định. Trong khi đó, 26,7% có việc làm nhưng chưa ổn định và 8,3% làm việc thời vụ. Như vậy, 35,0% thuộc nhóm thất nghiệp, gồm cả đang tìm việc và chưa tìm việc. Con số này cho thấy bài toán việc làm ở địa bàn nghiên cứu không chỉ là tạo thêm việc làm mà còn là nâng cao tính ổn định và chất lượng của việc làm.

4. Kết quả và “điểm nghẽn” thực thi chính sách hỗ trợ việc làm cho thanh niên nông thôn tại xã Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

Một là, tiếp cận chính sách và thông tin việc làm tương đối thuận lợi nhưng chưa đồng đều. Trong các hình thức hỗ trợ được khảo sát, tư vấn và cung cấp thông tin việc làm là nội dung có mức độ tiếp cận cao nhất, với 70,8% thanh niên cho biết đã từng biết hoặc tiếp cận. Tiếp đến là hỗ trợ vay vốn, phát triển sản xuất và sinh kế với 42,5%; đào tạo nghề và phát triển kỹ năng 39,2%; giới thiệu, kết nối việc làm 36,7%. Trong khi đó, tỷ lệ thanh niên từng tiếp cận hỗ trợ tự tạo việc làm, khởi nghiệp chỉ 25,8% và kết nối với doanh nghiệp 30,0%. Vẫn có 16,7% thanh niên cho biết chưa từng tiếp cận các chính sách hỗ trợ việc làm. Về kênh thông tin, mạng xã hội và internet là nguồn được thanh niên sử dụng nhiều nhất, chiếm 35,0%, cao hơn Đoàn Thanh niên (22,5%) và UBND xã/cán bộ địa phương (17,5%) (Nguyễn Thị Hương Giang, 2026). Trong khi đó, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo chỉ chiếm 8,3%. Điều này cho thấy phương thức truyền thông chính sách cần tiếp tục thích ứng với thói quen tiếp nhận thông tin của thanh niên, đồng thời tăng cường vai trò của các chủ thể trực tiếp kết nối thanh niên với thị trường lao động. Như vậy, vấn đề không hoàn toàn nằm ở việc thiếu thông tin mà còn ở khả năng tiếp cận, tính phù hợp và mức độ thuận tiện của các kênh truyền thông chính sách.

Hai là, đào tạo nghề đã được triển khai nhưng mức độ đáp ứng nhu cầu việc làm còn hạn chế. Kết quả khảo sát cho thấy đào tạo nghề và phát triển kỹ năng là một trong những nội dung được thanh niên tiếp cận, song mức độ đánh giá chưa cao. Đối với tiêu chí nội dung đào tạo phù hợp với nhu cầu của thanh niên, 42,5% lựa chọn mức 3; chỉ 27,5% đánh giá ở mức 4 và 5. Đối với sự phù hợp với nhu cầu tuyển dụng, tỷ lệ đánh giá mức 4 và 5 là 30,9%. Tiêu chí chương trình chú trọng thực hành có 27,5% đánh giá ở mức 4 và 5, trong khi khả năng bổ sung kỹ năng tìm kiếm việc làm sau đào tạo chỉ đạt 24,2% ở hai mức này. Kết quả trên cho thấy khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tế của thị trường lao động vẫn là vấn đề cần quan tâm. Điều này phù hợp với khó khăn mà thanh niên phản ánh: 35,0% cho rằng thiếu kỹ năng nghề là một trở ngại khi tìm kiếm hoặc duy trì việc làm, 38,3% thiếu kinh nghiệm và 25,8% cho rằng trình độ chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu. Đặc biệt, 55,8% cho rằng địa phương có ít doanh nghiệp tuyển dụng, trong khi 45,8% gặp khó khăn do thu nhập chưa đáp ứng nhu cầu (Nguyễn Thị Hương Giang, 2026).

Ba, tư vấn, giới thiệu việc làm và kết nối với doanh nghiệp chưa tạo được liên kết đủ mạnh. Các hoạt động tư vấn và giới thiệu việc làm đã được triển khai nhưng hiệu quả cảm nhận của thanh niên còn ở mức trung bình. Chỉ 26,7% đánh giá từ mức 4 trở lên đối với việc được cung cấp thông tin về vị trí việc làm phù hợp; 25,0% cho rằng hoạt động tư vấn giúp xác định hướng việc làm ở mức tốt hoặc rất tốt. Đối với cơ hội được giới thiệu đến doanh nghiệp tuyển dụng, tỷ lệ đánh giá ở hai mức cao là 25,9%; còn việc giới thiệu việc làm phù hợp với trình độ và nhu cầu chỉ đạt 27,5%. Khoảng trống này thể hiện rõ hơn ở nhóm tiêu chí kết nối doanh nghiệp. Chỉ 20,8% thanh niên đánh giá tốt hoặc rất tốt về hoạt động kết nối thanh niên với doanh nghiệp; 17,5% đánh giá tốt hoặc rất tốt về việc được cung cấp thông tin nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Mặc dù 25,0% cho biết có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với doanh nghiệp ở mức tốt hoặc rất tốt, chỉ 17,5% đánh giá hoạt động kết nối góp phần mở rộng cơ hội việc làm ở hai mức cao (Nguyễn Thị Hương Giang, 2026).

Bốn là, hỗ trợ tín dụng, sản xuất, sinh kế và tự tạo việc làm chưa thực sự đáp ứng nhu cầu. Mặc dù 42,5% thanh niên cho biết đã từng tiếp cận hỗ trợ vay vốn, phát triển sản xuất và sinh kế, các tiêu chí đánh giá về khả năng tiếp cận vốn và hiệu quả của hỗ trợ vốn vẫn còn hạn chế. Chỉ 20,8% đánh giá tốt hoặc rất tốt về khả năng tiếp cận thông tin nguồn vốn; 21,6% đánh giá điều kiện vay vốn phù hợp với khả năng của thanh niên ở mức 4 và 5. Đối với đóng góp của hỗ trợ vốn vào tạo hoặc duy trì việc làm, tỷ lệ đánh giá ở hai mức cao là 21,7%. Đối với tự tạo việc làm và khởi nghiệp, mức độ tiếp cận còn thấp hơn. Chỉ 25,8% thanh niên cho biết đã từng tiếp cận nội dung hỗ trợ này (Nguyễn Thị Hương Giang, 2026).

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho thanh niên nông thôn ở xã Sơn Dương còn có những “điểm nghẽn” chủ yếu như: (1) Thiếu doanh nghiệp tuyển dụng tại địa phương (55,8%), tiếp đến là thu nhập chưa đáp ứng nhu cầu (45,8%), thiếu kinh nghiệm (38,3%) và thiếu kỹ năng nghề (35,0%) (Nguyễn Thị Hương Giang, 2026). Điều này cho thấy vấn đề của chính sách không chỉ nằm ở khả năng hỗ trợ người lao động mà còn ở khả năng tạo ra và kết nối với các cơ hội việc làm thực tế. (2) Thiếu các nguồn lực tài chính, nhân lực, tín dụng, nguồn lực doanh nghiệp - xã hội và cơ sở vật chất; trong đó nhân lực thực hiện chính sách. (3) Thiếu cơ chế phối hợp giữa chính quyền và doanh nghiệp. Nhìn tổng thể, có thể nhận diện các “điểm nghẽn” lớn trong thực thi chính sách hỗ trợ việc làm cho thanh niên nông thôn tại xã Sơn Dương thể hiện ở khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động; hạn chế về nguồn lực và năng lực thực thi; liên kết giữa chính quyền, doanh nghiệp và thanh niên chưa chặt chẽ.

5. Yêu cầu đổi mới thực thi chính sách hỗ trợ việc làm cho thanh niên nông thôn tại xã Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

Thứ nhất, đổi mới phương thức cung cấp thông tin và tăng khả năng tiếp cận chính sách. Đổi mới phương thức truyền thông chính sách theo hướng đúng đối tượng, đúng nhu cầu và phù hợp với phương thức tiếp nhận thông tin của thanh niên. Do đó, chính quyền địa phương, Đoàn Thanh niên và các chủ thể thực thi cần chuyển từ tuyên truyền theo phương thức truyền thống sang kết hợp các kênh trực tiếp với nền tảng số. Thông tin cần được trình bày ngắn gọn, dễ hiểu, tập trung vào những nội dung mà thanh niên quan tâm như vị trí tuyển dụng, điều kiện tham gia đào tạo, chính sách tín dụng, chương trình hỗ trợ khởi nghiệp và cơ hội kết nối doanh nghiệp. Hình thành cơ chế cập nhật thường xuyên thông tin về việc làm và nhu cầu tuyển dụng trên địa bàn, hạn chế tình trạng thông tin chính sách và thông tin thị trường lao động bị phân tán.

Thứ hai, đổi mới công tác đào tạo nghề theo hướng gắn với nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Đây là yêu cầu có tính trọng tâm bởi đào tạo nghề và phát triển kỹ năng vừa là một trong những nội dung thanh niên có nhu cầu cao, vừa là điểm còn hạn chế trong quá trình thực thi. Kết quả khảo sát cho thấy thanh niên gặp khó khăn về kỹ năng nghề và kinh nghiệm; trong khi đánh giá về sự phù hợp giữa nội dung đào tạo với nhu cầu tuyển dụng và khả năng bổ sung kỹ năng tìm việc còn chưa cao. Vì vậy, đào tạo cần được tổ chức theo hướng xuất phát từ nhu cầu tuyển dụng và nhu cầu việc làm, thay vì chỉ dựa vào khả năng cung ứng của cơ sở đào tạo. Cần tăng cường khảo sát nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, cập nhật thường xuyên các nghề và kỹ năng có nhu cầu trên thị trường, đồng thời điều chỉnh nội dung đào tạo theo hướng tăng thực hành, kỹ năng tìm việc, kỹ năng phỏng vấn và kỹ năng số. Sự tham gia của doanh nghiệp ngay từ khâu xác định nhu cầu, xây dựng nội dung và tổ chức đào tạo sẽ giúp giảm khoảng cách giữa đào tạo và việc làm.

Thứ ba, chuyển trọng tâm từ giới thiệu việc làm sang kết nối thực chất với doanh nghiệp. Một trong những “điểm nghẽn” nổi bật tại xã Sơn Dương là sự hạn chế trong kết nối giữa thanh niên với doanh nghiệp. Do đó, cần thay đổi cách thức kết nối theo hướng liên tục và hai chiều, không chỉ cung cấp danh sách việc làm mà phải tạo cơ hội để doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào quá trình hỗ trợ thanh niên. Địa phương có thể xây dựng cơ chế thường xuyên cập nhật nhu cầu tuyển dụng, tổ chức các hoạt động tuyển dụng và tư vấn nghề nghiệp, kết nối doanh nghiệp với thanh niên theo từng nhóm ngành nghề, đồng thời tăng cường liên kết với các doanh nghiệp tại địa bàn và khu vực lân cận. Qua đó, chính sách việc làm được gắn chặt hơn với nhu cầu thực tế của thị trường lao động.

Thứ tư, tăng cường nguồn lực và nâng cao năng lực của đội ngũ thực thi. Nguồn lực là một trong những “điểm nghẽn” rõ nhất được phản ánh từ phía cán bộ thực thi. Các tiêu chí về nguồn lực tài chính, nhân lực, tín dụng, nguồn lực doanh nghiệp - xã hội và cơ sở vật chất chỉ đạt ở tỷ lê thấp; trong đó nhân lực thực hiện chính sách đạt mức thấp nhất. Vì vậy, quan tâm đồng thời đến nguồn lực tài chính và nguồn lực con người cho thực thi chính sách. Huy động hợp lý nguồn lực từ doanh nghiệp, tổ chức xã hội và các chương trình hỗ trợ khác. Đội ngũ cán bộ trực tiếp thực thi cũng cần được nâng cao năng lực về tư vấn việc làm, phân tích nhu cầu thị trường lao động, hỗ trợ thanh niên tiếp cận chính sách và sử dụng các công cụ số. Việc nâng cao năng lực thực thi cần gắn với trách nhiệm và kết quả đầu ra, thay vì chỉ dừng ở việc hoàn thành các thủ tục hành chính.

Thứ năm, đổi mới hỗ trợ vốn, sinh kế và tự tạo việc làm theo hướng gắn với đầu ra. Hỗ trợ tín dụng và phát triển sinh kế đã được triển khai nhưng khả năng tiếp cận vốn, mức độ phù hợp của điều kiện vay và đặc biệt là hỗ trợ thị trường đầu ra còn hạn chế. Trong khi đó, nhóm chính sách hỗ trợ tự tạo việc làm và khởi nghiệp có mức độ tiếp cận thấp hơn so với hỗ trợ thông tin việc làm. Do đó, hỗ trợ vốn cần được chuyển từ cách tiếp cận “hỗ trợ vốn” sang “hỗ trợ một chuỗi sinh kế”, bao gồm thông tin về vốn, tư vấn phương án sử dụng vốn, hướng dẫn sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ kỹ năng quản lý và kết nối thị trường tiêu thụ. Đối với thanh niên lựa chọn tự tạo việc làm hoặc khởi nghiệp, cần chú trọng tính khả thi của phương án sản xuất, khả năng tiếp cận thị trường và năng lực duy trì việc làm sau khi kết thúc hỗ trợ.

Thứ sáu, thiết lập cơ chế phối hợp thường xuyên giữa chính quyền, Đoàn Thanh niên, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo. Thực thi chính sách việc làm cho thanh niên có sự tham gia của nhiều chủ thể nên hiệu quả chính sách phụ thuộc đáng kể vào mức độ phối hợp. Kết quả khảo sát cán bộ cho thấy phối hợp giữa chính quyền và Đoàn Thanh niên tương đối thuận lợi, nhưng phối hợp với doanh nghiệp còn hạn chế; trao đổi thông tin giữa các chủ thể cũng chưa thực sự hiệu quả. Vì vậy, cần hình thành cơ chế phối hợp rõ ràng, trong đó mỗi chủ thể có chức năng và trách nhiệm cụ thể. Chính quyền giữ vai trò điều phối; Đoàn Thanh niên làm cầu nối với thanh niên; cơ sở đào tạo cung cấp và điều chỉnh chương trình đào tạo; doanh nghiệp cung cấp thông tin về nhu cầu tuyển dụng và tham gia vào quá trình đào tạo, tuyển dụng. Cơ chế phối hợp cần dựa trên việc trao đổi thông tin thường xuyên và cùng chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng của chính sách.

Thứ bảy, đổi mới theo dõi, đánh giá chính sách theo kết quả việc làm. Một yêu cầu quan trọng là chuyển phương thức đánh giá từ việc có bao nhiêu hoạt động được tổ chức sang số lượng thanh niên thực sự có việc làm và duy trì được việc làm sau hỗ trợ. Trên địa bàn xã, thanh niên cần tích cực tham gia các hoạt động kết nối, mở rộng cơ hội việc làm bằng những chính sách thực tiễn. Do đó, cần xây dựng hệ thống theo dõi sau hỗ trợ, trong đó quan tâm đến các chỉ số như số thanh niên được hỗ trợ, số người có việc làm, mức độ phù hợp của việc làm, thời gian duy trì việc làm, thu nhập và mức độ hài lòng của người thụ hưởng. Cần sử dụng phản hồi của thanh niên và doanh nghiệp để điều chỉnh nội dung, phương thức và nguồn lực thực thi chính sách.

6. Kết luận

Thực thi chính sách hỗ trợ việc làm cho thanh niên nông thôn tại xã Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đã đạt được một số kết quả trong cung cấp thông tin, đào tạo, tư vấn và hỗ trợ việc làm. Tuy nhiên, quá trình thực thi vẫn còn những “điểm nghẽn” về nguồn lực, đào tạo nghề, kết nối doanh nghiệp và khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế của thanh niên. Khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thị trường lao động vẫn chưa được thu hẹp. Sự phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp và các chủ thể liên quan chưa thực sự chặt chẽ. Khả năng tiếp cận vốn, hỗ trợ sinh kế và tự tạo việc làm còn hạn chế. Những vấn đề này đòi hỏi đổi mới phương thức thực thi theo hướng lấy nhu cầu của thanh niên và thị trường lao động làm trung tâm. Trọng tâm là gắn đào tạo với nhu cầu tuyển dụng, tăng cường kết nối doanh nghiệp và nâng cao năng lực đội ngũ thực thi. Đa dạng hóa nguồn lực và đổi mới hỗ trợ vốn, sinh kế, khởi nghiệp. Công tác theo dõi, đánh giá cần chuyển từ kiểm đếm hoạt động sang đánh giá kết quả việc làm, qua đó nâng cao tính thực chất và hiệu quả của chính sách./.

-------------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Quốc hội, Luật Thanh niên số 57/2020/QH14 ngày 16/6/2020.

2. Quốc hội, Luật Việc làm số 74/2025/QH15 ngày 16/6/2025.

3. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 897/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 phê duyệt Chương trình “Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp” giai đoạn 2022 - 2030.

4, 5, 6, 8. International Labour Organization (2024), Elevating the potential of rural youth: Paths to decent jobs and sustainable futures. International Labour Organization. https://doi.org/10.54394/OLLT3483.

7. International Labour Organization (2025), Independent high-level evaluation of the ILO’s strategies and actions under the Youth Employment Action Plan 2020 - 30. International Labour Organization.

9, 10, 11, 12. Nguyễn Thị Hương Giang (2026), Kết quả khảo sát thực thi chính sách hỗ trợ việc làm cho thanh niên nông thôn tại xã Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

Nguyễn Thị Hương Giang - Học viên Học viện Hành chính và Quản trị công

Bài viết cùng tác giả