Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa chính quyền cấp xã và cơ quan đăng ký đất đai trong giải quyết thủ tục hành chính - Improving coordination between commune-level authorities and land registration offices in processing administrative procedures

Ngày đăng: 06/10/2026   15:59
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Giải quyết thủ tục hành chính đất đai đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền cấp xã và cơ quan đăng ký đất đai khi vận hành chính quyền địa phương 02 cấp. Qua nghiên cứu quy định pháp luật và các tài liệu công bố chính thức giai đoạn 2025-2026, bài viết phân tích bốn nội dung phối hợp là: phân định trách nhiệm, liên thông quy trình, chia sẻ dữ liệu và giải trình. Các địa phương cấp tỉnh được lựa chọn nghiên cứu là Đà Nẵng, Hà Nội và Đồng Nai để làm rõ cách tổ chức phối hợp và yêu cầu kiểm soát tiến độ, chất lượng thông tin, năng lực cơ sở. Giải pháp tập trung vào quy chế theo nhóm thủ tục, trách nhiệm chuyển giao hồ sơ và đánh giá kết quả phục vụ người dân.

Từ khóa: Cơ chế phối hợp; chính quyền cấp xã; đăng ký đất đai; thủ tục hành chính; trách nhiệm giải trình.

Abstract: Land procedures require coordination between commune-level authorities and land registration offices under Vietnam’s two-tier government system. Analyzing legislation and public documents from 2025–2026, this article examines responsibility allocation, procedural integration, data sharing and accountability. Cases from Da Nang, Hanoi and Dong Nai illustrate coordination arrangements and issues of processing times, information quality and local capacity. Reported outcomes are distinguished from explanations requiring further evidence. Recommendations include procedure-specific rules, clear transfer responsibilities, reliable data reuse and professional support. Assessment should combine service outcomes with processing-stage records to identify delays and institutional responsibilities.

Keywords: Interagency coordination; commune-level authorities; land registration; administrative procedures; accountability.

1. Đặt vấn đề

Hồ sơ đất đai thường lưu chuyển qua nhiều cơ quan để làm các thủ tục xem xét, giải quyết, như bộ phận tiếp nhận kiểm tra thành phần; chính quyền nơi có đất cung cấp, xác minh thông tin địa bàn; cơ quan đăng ký thực hiện chuyên môn; cơ quan thuế xác định nghĩa vụ tài chính theo pháp luật. Kết quả xem xét, giải quyết của mỗi bên có ảnh hưởng đến việc xem xét, giải quyết của bên tiếp theo, nên chất lượng thủ tục hành chính đất đai phụ thuộc cả xử lý nội bộ và chuyển giao, sử dụng kết quả giữa các cơ quan.

Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 đã xác lập tổ chức đơn vị hành chính theo mô hình 02 cấp; các cơ quan thuộc chính quyền cấp huyện kết thúc hoạt động từ ngày 01/7/20251. Việc sắp xếp này làm thay đổi đầu mối thực hiện nhiều nhiệm vụ quản lý đất đai. Đối với những công việc liên quan đến cả cấp xã và hệ thống đăng ký đất đai, phân công thẩm quyền cần được cụ thể hóa bằng quy trình chuyển hồ sơ, cung cấp thông tin và xử lý vướng mắc. Nếu những nội dung này chưa thống nhất, người dân vẫn có thể phải chờ đợi hoặc bổ sung giấy tờ dù đã nộp hồ sơ đúng nơi tiếp nhận.

Bài viết phân tích thể chế và tài liệu công khai giai đoạn 20252026 nhằm hoàn thiện phối hợp giữa hai nhóm cơ quan (chính quyền cấp xã và cơ quan đăng ký đất đai). Nguồn gồm pháp luật, thông tin tại các địa phương là Đà Nẵng, Hà Nội, Đồng Nai và hội nghị chuyên ngành, được đối chiếu về trách nhiệm, trình tự, sử dụng dữ liệu, kiểm soát kết quả. Các trường hợp địa phương phục vụ phân tích tổ chức thực hiện, không đại diện cả nước.

1. Cơ sở lý luận về cơ chế phối hợp trong giải quyết thủ tục hành chính về đất đai


1.1. Khái niệm và đặc điểm của quan hệ phối hợp

Trong quản lý nhà nước, phối hợp là quá trình các chủ thể điều chỉnh hoạt động, trao đổi thông tin và sử dụng nguồn lực để thực hiện công việc có liên quan đến chức năng của nhiều cơ quan. Nghiên cứu về cách tiếp cận toàn bộ chính phủ, Christensen và Lægreid (2007) đặt vấn đề phối hợp trong yêu cầu khắc phục sự phân mảnh của khu vực công2. Tổng quan của Aoki, Tay và Rawat (2024) cho thấy các hình thức phối hợp rất đa dạng, diễn ra giữa cơ quan, cấp quản lý và lĩnh vực chính sách; việc lựa chọn cách thức tổ chức cần tính đến bối cảnh thực hiện3. Vận dụng vào thủ tục đất đai, điều cần làm rõ là quan hệ giữa những công việc thuộc các chủ thể khác nhau và điều kiện để kết quả của công việc trước được sử dụng ở công việc sau.

Cơ chế phối hợp giữa chính quyền cấp xã và cơ quan đăng ký đất đai gồm quy định và cách tổ chức gắn trách nhiệm trong giải quyết các thủ tục hành chính đất đai, bao gồm: phân công, trao đổi, xác minh thông tin, chuyển hồ sơ, xử lý bất đồng và kiểm tra tiến độ. Quy chế là căn cứ; hiệu quả giải quyết còn phụ thuộc quy trình nội bộ, người thực hiện và điều kiện bảo đảm.

Trong bài viết, chính quyền cấp xã được xem xét chủ yếu qua hoạt động của Ủy ban nhân dân (UBND), Chủ tịch UBND cấp xã và cơ quan chuyên môn thực hiện nhiệm vụ quản lý đất đai. Cơ quan đăng ký đất đai gồm Văn phòng đăng ký đất đai và các chi nhánh. Khoản 1 Điều 13 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP xác định Văn phòng đăng ký đất đai là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh4. Khi thiết kế quan hệ công tác và phân công nhân sự, cần phân biệt trách nhiệm của cơ quan hành chính cấp xã với trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện nghiệp vụ đăng ký.

Các bên nắm thông tin và năng lực bổ sung theo hướng cấp xã gắn với địa bàn, cơ quan đăng ký quản lý hồ sơ và nghiệp vụ đăng ký. Thông tin bên này có thể làm căn cứ cho bên kia; nếu sai lệch hoặc chậm cung cấp sẽ ảnh hưởng không tốt đến toàn bộ quy trình. Phối hợp phải đúng thẩm quyền, ý kiến họp, biên bản thực địa chỉ phục vụ xử lý, không thay thế quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

1.2. Nội dung và tiêu chí đánh giá cơ chế phối hợp

Trước hết, cần phân biệt cơ quan chủ trì, cơ quan cung cấp thông tin, đơn vị nghiệp vụ và người quyết định. Phân công phải gắn với nội dung hoàn thành, thời hạn phản hồi và trách nhiệm về thông tin, giúp xác định phần việc còn thiếu mà không chuyển lại toàn bộ hồ sơ.

Thứ hai là liên thông quy trình: bên nhận để biết kết quả bước trước, nội dung cần xử lý và điều kiện chuyển tiếp; các bên thống nhất hướng dẫn người dân. Quản lý tiến độ phải bao gồm thời gian chuyên môn, chờ xác minh, phản hồi để không bỏ qua khoảng chờ giữa các đơn vị.

Thứ ba, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu phải rõ nguồn, thời điểm cập nhật, đơn vị chịu trách nhiệm. Kết nối phần mềm hỗ trợ trao đổi; khả năng sử dụng còn phụ thuộc vào độ chính xác, giá trị pháp lý, quyền khai thác. Khi hồ sơ giấy, bản quét, dữ liệu điện tử khác nhau thì phải rõ nơi nhận phản ánh và trách nhiệm chỉnh lý (nếu có yêu cầu).

Thứ tư, trách nhiệm giải trình đòi hỏi giải thích căn cứ xử lý, nguyên nhân chậm, biện pháp khắc phục theo nhiệm vụ, dựa trên lịch sử hồ sơ. Khi bất đồng về nghiệp vụ hoặc thẩm quyền, quy trình thì phải xác định nơi nhận báo cáo và cấp hướng dẫn, quyết định, tránh trao đổi kéo dài.

Có thể đánh giá phối hợp qua phân công rõ ràng, quy trình liên tục, thông tin dùng chung và khả năng xác định trách nhiệm. Chỉ tiêu gồm thời gian giải quyết, thời gian chờ phản hồi, số lần chuyển trả, yêu cầu bổ sung, sai sót phải đính chính, phân loại theo thủ tục và tính chất hồ sơ. Đúng hạn chưa phản ánh đủ chất lượng nếu người dân đi lại nhiều hoặc kết quả sai.

2. Thực trạng cơ chế phối hợp giữa chính quyền cấp xã và cơ quan đăng ký đất đai


2.1. Cơ sở pháp lý và những kết quả triển khai

Trách nhiệm tổ chức phối hợp đã được quy định ở cấp tỉnh. Khoản 6 Điều 13 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP quy định UBND cấp tỉnh ban hành quy chế phối hợp giữa Văn phòng đăng ký đất đai, các chi nhánh và những cơ quan liên quan. Điểm a khoản 4 Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP đã thay cụm từ “cấp huyện” bằng “cấp xã” (do kết thúc hoạt động của chính quyền cấp huyện) tại khoản này để phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp4,5. Quy chế phải xác định cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, trách nhiệm của người đứng đầu, nội dung và thời hạn thực hiện. Đây là căn cứ để địa phương tổ chức quan hệ công tác giữa chính quyền cấp xã và hệ thống văn phòng đăng ký đất đai.

Thẩm quyền giải quyết từng nhóm hồ sơ cần được đối chiếu với Nghị định số 49/2026/NĐ-CP. Khoản 1 Điều 14 Nghị định này giao UBND cấp tỉnh quyết định việc phân cấp, ủy quyền đối với những nhiệm vụ được quy định tại khoản này; khoản 2 phân định thẩm quyền cấp giấy chứng nhận và một số nghiệp vụ liên quan. Khoản 1 Điều 15 yêu cầu UBND cấp tỉnh quy định trình tự, thủ tục đối với các trường hợp thuộc Điều 14, trong đó làm rõ trách nhiệm và thời gian thực hiện, chậm nhất đến ngày 01/7/20266. Vì vậy, quy trình phối hợp phải bám vào quyết định phân cấp, ủy quyền và quy định thủ tục đang áp dụng tại địa phương, thay vì tiếp tục sử dụng sự phân công trước khi sắp xếp.

Đối với cơ chế một cửa, một cửa liên thông, Nghị định số 118/2025/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 367/2025/NĐ-CP và Nghị định số 309/2026/NĐ-CP7,8,9. Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 309/2026/NĐ-CP bổ sung nguyên tắc khai thác dữ liệu để thay thế thành phần hồ sơ khi dữ liệu đã được cơ quan chủ quản công bố, kết nối, chia sẻ theo quy định. Cơ quan giải quyết được yêu cầu bổ sung thông tin, giấy tờ cần thiết nếu không thể khai thác dữ liệu do sự cố, thảm họa hoặc thông tin chưa chính xác9. Quy định này đặt ra yêu cầu cụ thể đối với cấp xã và cơ quan đăng ký đất đai: phải kiểm tra khả năng khai thác dữ liệu trước khi hướng dẫn người dân bổ sung giấy tờ, đồng thời xác định rõ trách nhiệm khi dữ liệu chưa sử dụng được.

Ở thành phố Đà Nẵng, UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 26/2026/QĐ-UBND ngày 27/3/2026 về quy chế phối hợp giữa hệ thống đăng ký đất đai với chính quyền cấp xã và các đơn vị liên quan. Điều 4 Quyết định này quy định rõ việc lấy ý kiến phải bằng văn bản, tổ chức họp hoặc kiểm tra thực địa; cơ quan phối hợp chịu trách nhiệm về thông tin cung cấp và phải nêu lý do nếu quá thời hạn mà chưa phản hồi10. Quy định này cũng làm rõ một khâu thường ảnh hưởng đến tiến độ hồ sơ, đó là trách nhiệm của cơ quan được đề nghị xác minh, cung cấp thông tin. Hiệu quả thực hiện có thể được xem xét qua thời điểm gửi yêu cầu, thời điểm trả lời và nội dung phản hồi.

Về hỗ trợ nhân lực, thông tin trên Cổng Thông tin điện tử tỉnh Đồng Nai ngày 05/9/2025 cho biết Sở Nông nghiệp và Môi trường đã cử 95 cán bộ, viên chức thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh hỗ trợ UBND các xã, phường từ ngày 08/9 đến hết ngày 31/12/2025. Nhiệm vụ của nhóm này gồm hỗ trợ giải quyết thủ tục đất đai, hướng dẫn nghiệp vụ và tổng hợp vướng mắc để báo cáo Tổ phản ứng nhanh của Sở11. Trường hợp này thể hiện cách kết hợp bố trí người có chuyên môn tại cơ sở với đầu mối tiếp nhận, giải quyết khó khăn ở cấp tỉnh.

Tại Hà Nội, thông tin do Sở Nông nghiệp và Môi trường công bố ngày 18/9/2026 ghi nhận sự phối hợp giữa UBND các xã, phường và hệ thống đăng ký đất đai trong việc thu thập, chuẩn hóa dữ liệu. Trong số 3.257.215 thửa đất đã có trong cơ sở dữ liệu, 2.976.875 thửa được đối khớp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và 2.469.178 thửa có dữ liệu thuộc tính được liên kết với dữ liệu không gian12. Kết quả này phản ánh điều kiện thông tin phục vụ phối hợp. Để đánh giá tác động đối với người dân, cần tiếp tục theo dõi việc khai thác dữ liệu trong từng thủ tục và thay đổi về thời gian, số lần bổ sung hồ sơ.

2.2. Những vấn đề đặt ra trong quá trình phối hợp

Vấn đề trước hết là kiểm soát tiến độ giữa các công đoạn. Theo Báo điện tử Chính phủ ngày 06/5/2026, số liệu rà soát từ đầu năm tại Đà Nẵng ghi nhận 13.366 hồ sơ hoàn thành quá hạn ở Văn phòng đăng ký đất đai và các chi nhánh; tại thời điểm báo cáo, nhóm đơn vị này còn 438 hồ sơ đang xử lý quá hạn13. Hai con số phản ánh những trạng thái hồ sơ khác nhau, cần được theo dõi riêng. Nguồn công bố chưa phân tách thời gian xử lý ở từng công đoạn, nên chưa đủ căn cứ để xác định số hồ sơ chậm do phối hợp với cấp xã.

Cần kiểm tra từng hồ sơ để làm rõ thời điểm gửi xác minh, đơn vị tiếp nhận, mức độ đáp ứng của phản hồi và công đoạn đang chờ. Chỉ xét đơn vị giữ hồ sơ có thể bỏ qua chậm trễ trước đó. Vì vậy, kiểm tra tiến độ phải bổ sung lịch sử chuyển giao bên cạnh số liệu đúng hạn, quá hạn.

Chất lượng dữ liệu là vấn đề tiếp theo. Tại Hội nghị do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công an tổ chức ngày 30/3/2026, đại biểu tỉnh Thái Nguyên đề nghị sớm có quy trình lồng ghép, hướng dẫn chuyên môn và kinh phí; đại biểu thành phố Hải Phòng đề nghị hoàn thiện định mức, hướng dẫn kỹ thuật và tài liệu nghiệp vụ. Hội nghị cũng ghi nhận khả năng cập nhật dữ liệu theo thời gian thực chưa được đánh giá đầy đủ14. Những phản ánh này cho thấy cần xem xét riêng mức độ hoàn thiện dữ liệu ban đầu và khả năng duy trì thông tin cập nhật trong quá trình giải quyết hồ sơ.

Hồ sơ địa chính, giấy tờ người dân và dữ liệu khai thác có thể hình thành khác thời điểm. Khi sai lệch, phải xác định tài liệu căn cứ, cơ quan kiểm tra, đơn vị chỉnh lý; yêu cầu nộp lại toàn bộ giấy tờ không tự giải quyết khác biệt nguồn. Dữ liệu chung phải gắn với kiểm tra và thông báo kết quả chỉnh lý cho các bên tiếp theo được biết. Quy chế cần cụ thể hóa theo thủ tục đăng ký lần đầu, biến động, cấp đổi, đính chính giấy chứng nhận. Cấp xã tham gia theo yêu cầu làm rõ cơ sở pháp lý của từng trường hợp. Phối hợp đồng loạt dễ làm phát sinh xác minh thừa nhưng thiếu trách nhiệm kiểm tra với hồ sơ phức tạp. Vì vậy, phải đánh giá quy chế cùng quy trình nghiệp vụ thực hiện.

Về nhân lực, kinh nghiệm hỗ trợ có thời hạn tại Đồng Nai đặt ra câu hỏi về việc duy trì năng lực ở cơ sở sau khi đợt hỗ trợ kết thúc11. Nội dung cần theo dõi là khả năng xử lý của công chức được hướng dẫn, mức độ chuyển giao kinh nghiệm và khối lượng công việc tại đơn vị cử người. Bố trí thêm nhân sự có thể giải quyết nhu cầu trước mắt, nhưng để duy trì kết quả thì các đơn vị cần có tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ chung và người chịu trách nhiệm hỗ trợ khi phát sinh tình huống mới. Dẫn chứng phản ánh triển khai tại những địa bàn cụ thể cho thấy tài liệu công khai thiếu dữ liệu thống nhất về thời gian chuyển giao, số lần bổ sung, chi phí đi lại để so sánh địa phương.

2.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng phối hợp

Đối chiếu quy định pháp luật và thực tiễn triển khai giải quyết thủ tục hành chính đất đai cho thấy cần gắn thẩm quyền với công cụ thực hiện. Thay đổi phân cấp, ủy quyền phải đi cùng cập nhật biểu mẫu, tài khoản xử lý, nơi nhận hồ sơ và hướng dẫn. Công cụ theo phân công cũ khiến người thực hiện thêm bước chuyển tiếp hoặc xin ý kiến, phát sinh thời gian chờ.

Nguồn lực và đánh giá công việc có ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả phối hợp. Cung cấp thông tin, xác minh, hướng dẫn cần thời gian nhưng không luôn tạo hồ sơ hoàn thành tại đơn vị. Chỉ tính hồ sơ trả kết quả thì dễ dẫn đến bỏ sót phần hỗ trợ cơ quan khác. Do đó, cần đưa trách nhiệm phối hợp vào phân công và đánh giá công chức, viên chức.

Cơ quan quản lý và cơ quan sử dụng dữ liệu có thể khác nhau. Quy trình phải quy định quyền truy cập, điều kiện khai thác và trách nhiệm chỉnh lý. Mở rộng kết nối mà chưa rõ quyền sử dụng, trách nhiệm cập nhật, xử lý sai sót chưa bảo đảm thông tin được sử dụng thống nhất.

3. Giải pháp hoàn thiện cơ chế phối hợp


3.1. Cụ thể hóa trách nhiệm theo từng nhóm thủ tục

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cần rà soát quy chế cùng quyết định phân cấp, ủy quyền và quy trình hiện hành. Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì tham mưu về chuyên môn, phối hợp cơ quan kiểm soát thủ tục, thuế, UBND cấp xã, Văn phòng đăng ký đất đai để giải quyết thủ tục hành chính đất đai. Mỗi thủ tục phải rõ phần việc của cấp xã, cơ quan đăng ký và kết quả chuyển giao.

Khi xác minh địa bàn, cơ quan chủ trì phải nêu vấn đề, tài liệu đã có, nội dung thiếu; bên phối hợp trả lời theo nhiệm vụ. Thông tin đủ điều kiện khai thác dữ liệu cần được sử dụng, tránh xác nhận lại. Không thêm bước xác nhận cấp xã cho mọi hồ sơ chỉ vì nơi có đất; yêu cầu phối hợp phải có căn cứ, phù hợp thủ tục. Phải phân biệt theo dõi tiến độ với thẩm quyền quyết định. Đầu mối đôn đốc, thông báo, báo cáo vướng mắc; người quyết định chịu trách nhiệm nội dung. Khi phát sinh cách hiểu khác nhau về quy định pháp luật thì báo cáo phải kèm hồ sơ về những điểm bất đồng và đề xuất xử lý để cấp có thẩm quyền xem xét, tránh chuyển văn bản thiếu căn cứ.

3.2. Chuẩn hóa chuyển giao hồ sơ và kiểm soát thời gian xử lý

Quy trình từ tiếp nhận đến trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính đất đai phải rõ điều kiện hoàn thành từng bước. Chuyển giao hồ sơ thủ tục cho bên tiếp theo cần ghi mã hồ sơ, bên gửi, nhận, thời điểm, yêu cầu, hạn trả lời. Đơn vị chuyên môn tổng hợp nội dung thiếu thuộc trách nhiệm trước khi đầu mối hướng dẫn người dân. Không chuyển trả toàn bộ nếu chỉ cần giải thích, bổ sung một nội dung theo quy trình hiện hành.

Thời hạn công đoạn phải trong thời gian công bố. Theo dõi phải tách thời gian xử lý, chờ phản hồi và thời gian loại trừ theo quy định; tạm dừng, tiếp tục, chuyển trả phải lưu lý do, lịch sử. Hồ sơ tiếp nhận lại vẫn phải thể hiện quá trình trước đó, tránh làm sai lệch thời gian người dân thực chờ.

Yêu cầu sắp hết hạn cần được thông báo tới người xử lý, phụ trách. Nếu chưa trả lời được, bên phối hợp nêu vướng mắc để chủ trì báo cáo đúng thẩm quyền. Xử lý quá hạn phải rõ trách nhiệm đôn đốc và giải quyết; không mặc nhiên coi im lặng là đồng ý khi pháp luật yêu cầu xác minh hoặc quyết định.

3.3. Gắn chia sẻ dữ liệu với trách nhiệm kiểm tra và cập nhật

Sở Nông nghiệp và Môi trường cùng các đơn vị liên quan xác định thông tin chung theo nhóm thủ tục, cơ quan quản lý nguồn, đơn vị cập nhật. Quyền khai thác của công chức, viên chức phải đúng nhiệm vụ. Khi thay giấy tờ bằng dữ liệu, cần kiểm tra nguồn, thời điểm cập nhật và mức đáp ứng thủ tục.

Cập nhật, chỉnh lý phải thuộc quy trình hằng ngày. Khi thay đổi thông tin thửa đất, người sử dụng, đơn vị phụ trách phải cập nhật, kiểm tra đồng bộ theo quy định. Sai lệch được gửi tới nơi có thẩm quyền chỉnh lý và theo dõi kết quả. Dữ liệu chưa dùng được phải rõ nội dung bổ sung, cách giải quyết; thiếu dữ liệu không tự tạo kết luận về quyền sử dụng đất.

Yêu cầu bổ sung khi không khai thác được dữ liệu phải đúng điều kiện pháp luật, giải thích lý do, giấy tờ cần thiết. Chia sẻ phải giới hạn theo nhiệm vụ, ghi nhận truy cập, kiểm soát thông tin cá nhân. Người dân cần kênh phản ánh sai lệch, theo dõi chỉnh lý và hỗ trợ khi chưa có điều kiện dùng dịch vụ trực tuyến.

3.4. Bố trí nhân lực và duy trì hỗ trợ chuyên môn cho cấp xã

Bố trí nhân lực phải theo số lượng, tính chất hồ sơ và thời gian, kể cả xác minh, cung cấp thông tin, chỉnh lý. Địa bàn tồn đọng, tài liệu lịch sử phức tạp, biến động lớn cần phải có nhân lực hỗ trợ phù hợp. Cử viên chức đăng ký hỗ trợ chính quyền cấp xã phải thống nhất nhiệm vụ, báo cáo, thời gian, bàn giao và trách nhiệm chuyên môn, phân biệt hỗ trợ với thẩm quyền giải quyết.

Bồi dưỡng cần theo tình huống phối hợp thực tế, như xác minh chưa rõ, thông tin mâu thuẫn, chuyển trả nhiều lần. Công chức cấp xã và viên chức đăng ký phải cùng trao đổi để thống nhất cách hiểu và trách nhiệm trong phối hợp giải quyết thủ tục. Hướng dẫn của cấp có thẩm quyền cần cập nhật vào tài liệu chung, kèm căn cứ pháp lý, thời điểm áp dụng.

Mỗi đơn vị cần đầu mối nghiệp vụ và người thay thế. Vấn đề đơn giản có thể trao đổi trực tiếp; hướng dẫn ảnh hưởng đến kết quả phải ghi nhận là có phù hợp để lưu thành hồ sơ kinh nghiệm nếu có thay nhân sự. Đánh giá bồi dưỡng qua chất lượng hướng dẫn, sai sót lặp lại, không chỉ số lượt tham gia.

3.5. Đánh giá kết quả phối hợp gắn với trách nhiệm của từng cơ quan

Ngoài đúng thời hạn, nên theo dõi phản hồi phối hợp đúng hạn nội bộ, thời gian chờ và hồ sơ bổ sung do hướng dẫn thiếu. Đây là chỉ tiêu đề xuất, cần thống nhất cách tính, nguồn dữ liệu. Tỷ lệ phản hồi đúng thời hạn tính trên yêu cầu đến hạn trong kỳ giải quyết; phải tách hồ sơ hoàn thành quá hạn với hồ sơ đang xử lý quá thời hạn.

So sánh đơn vị phải xem xét thủ tục, độ phức tạp và dữ liệu. Chỉ tính hồ sơ hoàn thành có thể khuyến khích ưu tiên hồ sơ dễ, kéo dài xác minh. Với hồ sơ chậm, lịch sử xử lý giúp xác định trách nhiệm ở từng khâu; biện pháp khắc phục phải phù hợp nguyên nhân từ cá nhân, quy trình, dữ liệu hay sự cố kỹ thuật.

Về đầu mối thủ tục hành chính cấp tỉnh tổng hợp tiến độ liên thông: Sở Nông nghiệp và Môi trường kiểm tra chuyên môn; người đứng đầu UBND cấp xã, cơ quan đăng ký đất đai giải trình phần việc của mình. Cần công khai tình trạng hồ sơ, lý do chậm, đầu mối trong phạm vi cho phép; định kỳ kiểm tra phản ánh về hướng dẫn mâu thuẫn, giấy tờ lặp lại.

3.6. Tổ chức thực hiện theo nhu cầu của từng địa phương

Nên ưu tiên thủ tục nhiều chuyển giao, bổ sung hồ sơ hoặc phản ánh chậm. UBND cấp tỉnh chỉ đạo rà soát toàn bộ quá trình qua hồ sơ đã giải quyết, bảo vệ thông tin cá nhân. Rà soát phải rõ khâu trùng lặp, phân công chưa rõ, điều kiện thiếu để điều chỉnh quy chế, quy trình, hướng dẫn theo thẩm quyền.

Có thể thử công cụ theo dõi, cảnh báo quá hạn, hỗ trợ nghiệp vụ ở địa bàn có điều kiện khác nhau, tuân thủ quy định về hồ sơ, thẩm quyền, điều kiện giải quyết. Sau đánh giá, cơ quan chủ trì xét kết quả phục vụ, chi phí, khả năng duy trì trước khi mở rộng. Kế hoạch phải bố trí kinh phí dữ liệu, bảo trì, bồi dưỡng, tránh phụ thuộc hỗ trợ ngắn hạn.

Kết luận

Hoàn thiện phối hợp giải quyết thủ tục hành chính đất đai giữa chính quyền cấp xã và cơ quan đăng ký đất đai cần rõ làm rõ trách nhiệm ở khâu phụ thuộc kết quả của nhau. Quy chế phối hợp do cấp tỉnh ban hành phải cụ thể theo thủ tục, gắn chuyển hồ sơ, sử dụng dữ liệu, xử lý vướng mắc. Các trường hợp nghiên cứu trong bài viết cho thấy quy chế ban hành ở các địa phương đã hình thành căn cứ pháp lý, cách phối hợp; cần tiếp tục làm rõ thực hiện từng khâu và kết quả phục vụ. Ưu tiên là kiểm soát thời gian chờ, trách nhiệm thông tin và hỗ trợ chuyên môn cấp xã. Đánh giá hiệu quả phối hợp giải quyết thủ tục hành chính đất đai cần kết hợp giữa hồ sơ thực tế với phản hồi của người dân có thủ tục cần/được giải quyết để điều chỉnh quy trình, nguồn lực đúng nơi vướng mắc, bảo đảm mỗi cơ quan thực hiện đầy đủ thẩm quyền, trách nhiệm./.

-------------------------------------------------------------

Chú thích và tài liệu tham khảo:

1. Quốc hội (2025), Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 ngày 16/6/2025, Điều 1 và khoản 3 Điều 51. Nguồn: vanban.chinhphu.vn.

2. Christensen, T & Lægreid, P (2007), The whole-of-government approach to public sector reform. Public Administration Review, 67(6), 1059–1066. https://doi.org/10.1111/j.1540-6210.2007.00797.x.

3. Aoki, N., Tay, M., & Rawat, S (2024), Whole-of-government and joined-up government: A systematic literature review. Public Administration, 102(2), 733-752. https://doi.org/10.1111/padm.12949.

4. Chính phủ (2024), Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, khoản 1 và khoản 6 Điều 13 (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 226/2025/NĐ-CP). Nguồn: vanban.chinhphu.vn.

5. Chính phủ (2025), Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15/8/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, điểm a khoản 4 Điều 7. Nguồn: vanban.chinhphu.vn.

6. Chính phủ (2026), Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai, Điều 14 và Điều 15. Nguồn: vanban.chinhphu.vn.

7. Chính phủ (2025), Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Nguồn: vanban.chinhphu.vn.

8. Chính phủ (2025), Nghị định số 367/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025. Nguồn: vanban.chinhphu.vn.

9. Chính phủ (2026), Nghị định số 309/2026/NĐ-CP ngày 05/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 367/2025/NĐ-CP; khoản 1 Điều 2 bổ sung khoản 2a Điều 4 về khai thác, sử dụng dữ liệu. Nguồn: vanban.chinhphu.vn.

10. UBND thành phố Đà Nẵng (2026), Quyết định số 26/2026/QĐ-UBND ngày 27/3/2026 ban hành Quy chế phối hợp thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa Văn phòng Đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai với cơ quan có chức năng quản lý đất đai, UBND cấp xã, Bộ phận Một cửa, cơ quan tài chính, cơ quan thuế và các cơ quan, đơn vị khác có liên quan trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Điều 4 của Quy chế. Nguồn: vbpl.vn.

11. Hoàng Lộc (2025, ngày 05 tháng 9), Đồng Nai cử 95 cán bộ Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh về hỗ trợ xã, phường. Cổng thông tin điện tử tỉnh Đồng Nai. Nguồn: dongnai.gov.vn.

12. Lê Văn Tuyên (2026, ngày 18 tháng 9), Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội: Tạo chuyển biến rõ nét trong hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai qua Chiến dịch “45 ngày”. Nguồn: sonnmt.hanoi.gov.vn.

13. Nhật Anh (2026, ngày 06 tháng 5), Đà Nẵng: Hơn 17.000 hồ sơ quá hạn, lĩnh vực đất đai chiếm tỉ lệ lớn. Nguồn: baochinhphu.vn.

14. Khương Trung, Trường Giang (2026, ngày 30 tháng 3), Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia năm 2026: Nhiệm vụ “không thể lùi”. Nguồn: mae.gov.vn.

Chu Bá Thành - Ủy ban nhân dân xã Bất Bạt, thành phố Hà Nội

Bài viết cùng tác giả