Từ khóa: Chính sách phát triển nhân lực; dân tộc thiểu số; Trung Quốc; Việt Nam.
Abstract: China’s human resource development policies for ethnic minorities have been implemented in a relatively comprehensive manner, integrating education development, vocational training, skills enhancement, and employment creation with poverty reduction and the promotion of socio-economic development in ethnic minority areas. Vietnam and China share similarities in culture, ethnic diversity, national development history, and the need to improve the quality of human resources among ethnic minorities. On this basis, studying and comparing China’s experience can provide valuable insights for Vietnam in formulating, refining, and implementing human resource development policies, particularly those aimed at developing high-quality human resources. These efforts can help gradually harness the internal strengths of ethnic minority communities in ways that suit Vietnam’s practical conditions and specific characteristics.
Keywords: Human resource development policies; ethnic minorities; China; Vietnam.
![]()
1. Đặt vấn đề
Trung Quốc là quốc gia rộng lớn và đa tộc người, đa văn hóa nên quá trình giải quyết các vấn đề dân tộc cần những chính sách phù hợp, toàn diện và đặc thù. Các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Trung Quốc qua từng thời kỳ đã có sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết vấn đề dân tộc. Với quan điểm lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình làm nền tảng tư tưởng, hệ thống các chính sách dân tộc của Trung Quốc ngày càng được hoàn thiện. Theo kết quả của cuộc Tổng điều tra dân số toàn quốc lần thứ tư (năm 1990), Trung Quốc đã xác định 56 thành phần dân tộc với 55 dân tộc thiểu số (DTTS). Các dân tộc ở Trung Quốc sống tập trung ở một số vùng, nhưng không cư trú thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các dân tộc khác trong phạm vi của tỉnh, huyện, xã, làng, bản và có quan hệ chặt chẽ về kinh tế, văn hóa, sống đoàn kết thống nhất. Tuy nhiên, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các tộc người ở Trung Quốc không đồng đều. Nguyên nhân là do yếu tố lịch sử, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên khác nhau. Sự chênh lệch mức sống, điều kiện kinh tế - xã hội đã tạo ra những khoảng cách, do đó Đảng và Nhà nước Trung Quốc phải ban hành những chính sách tạo điều kiện và hỗ trợ cho vùng đồng bào DTTS. Từ những năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây, các chính sách dân tộc của Trung Quốc nhằm phát triển toàn diện về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng, trong đó có chính sách phát triển nguồn nhân lực tạo nền tảng, đòn bẩy và động lực cho sự phát triển bền vững, hài hòa vùng đồng bào DTTS.
2. Hệ thống chính sách phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số của Trung Quốc
Trung Quốc nằm ở khu vực Đông Á, tiếp giáp với Thái Bình Dương ở phía đông và có biên giới với 14 quốc gia. Địa hình Trung Quốc phần lớn là đồi núi, cao nguyên và sa mạc ở phía Tây, địa hình thoai thoải, chủ yếu là đồi và đồng bằng ở phía Đông. Chính địa hình không đồng đều đã tạo nên sự chênh lệch về mật độ dân cư và sự phát triển kinh tế - xã hội giữa khu vực Đông - Tây của Trung Quốc. Các dân tộc ở Trung Quốc phân bố không đều giữa các vùng trong cả nước. Người Hán định cư trên khắp đất nước nhưng chủ yếu sinh sống tại miền Đông, miền Trung, miền Nam, vùng trung và hạ lưu sông Hoàng Hà, sông Dương Tử, sông Châu Giang, các đồng bằng Tùng Liêu. Các DTTS sống xen kẽ nhưng tập trung chủ yếu tại Miền Tây, Miền Đông Bắc, Miền Tây Nam và Miền Tây Bắc. Các DTTS có số lượng dân cư không lớn nhưng sinh sống trải dài trên phần lãnh thổ chiếm tới gần 60% diện tích cả nước (Teng Chengda (Đằng Thành Đạt), 21).
Do quá trình hình thành và phát triển của lịch sử các tộc người, cùng với điều kiện thực tế, Trung Quốc hình thành 02 đặc khu hành chính là Hồng Kông và Ma Cao, đồng thời thiết lập các Khu tự trị. Hiện nay, Trung Quốc có 5 Khu tự trị, gồm: Khu tự trị Nội Mông; Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ, Tân Cương; Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây; Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ; Khu tự trị Tây Tạng. Bên cạnh việc thành lập các khu tự trị dân tộc, Trung Quốc còn cho thành lập các địa phương tự trị.
Trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin về giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, từ thực tiễn tại Trung Quốc cũng như tiếp thu một số lý luận tiến bộ về phát triển bền vững, Đảng Cộng sản Trung Quốc nhấn mạnh việc giải quyết vấn đề dân tộc theo các quan điểm chỉ đạo cơ bản: Kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc; Kiên trì con đường chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc; Kiên trì duy trì sự thống nhất Tổ quốc; Kiên trì sự bình đẳng giữa các dân tộc; Kiên trì và hoàn thiện chế độ tự trị vùng dân tộc; Kiên trì cùng phấn đấu, đoàn kết, cùng phát triển phồn vinh giữa các dân tộc và duy trì nền tảng tư tưởng của cộng đồng dân tộc Trung Hoa; Kiên trì nguyên tắc pháp quyền (Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc vụ viện Trung Quốc, 2023). Cho đến nay, nhiều chủ trương, chính sách về công tác dân tộc đã được Đảng và Nhà nước Trung Quốc ban hành, điển hình như: “Ý kiến về việc giải quyết và xử lý các vấn đề dân tộc theo nguyên tắc pháp quyền và duy trì đoàn kết dân tộc” (năm 2017), “Ý kiến về tăng cường đoàn kết dân tộc và củng cố ý thức cộng đồng dân tộc Trung Quốc” (năm 2019), “Ý kiến về tăng cường và cải thiện công tác dân tộc trong bối cảnh mới” (năm 2023)...
Xác định phát triển giáo dục mang yếu tố nền tảng, quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực của đồng bào DTTS nên Trung Quốc luôn tập trung đầu tư phát triển giáo dục dân tộc thiểu số, “ở Trung Quốc, giáo dục dân tộc thiểu số được coi là công trình tâm hồn nâng cao tố chất dân tộc thiểu số, giúp thay đổi triệt để hiện trạng kinh tế - xã hội của dân tộc thiểu số” (Trịnh Tây, 101). Từ tháng 7/2002, Chính phủ Trung Quốc đã ra quyết định về đẩy nhanh phát triển giáo dục DTTS, xác định phương hướng, nhiệm vụ và biện pháp cụ thể nhằm phát triển giáo dục DTTS. Từ năm 2000, Nhà nước Trung Quốc có Chương trình các trường học miền Đông giúp đỡ các trường học miền Tây gặp khó khăn. Nội dung của chương trình này bao gồm: cử giáo viên dạy học tại các trường; giúp đỡ trường học và học sinh khó khăn về mặt vật chất; giúp đỡ về giáo dục dạy nghề và giáo dục đại học, cao đẳng. Hiện nay, Bộ Giáo dục Trung Quốc tiếp tục ưu tiên nâng cao chất lượng giáo dục tại các vùng DTTS, đặc biệt chú trọng thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa vùng dân tộc và các khu vực phát triển hơn. Năm 2025, các ưu tiên bao gồm đổi mới phương thức phát triển nhân tài, thí điểm học tập số và tăng cường hợp tác giáo dục liên vùng. Trung Quốc đang chuyển từ mục tiêu mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục sang nâng cao chất lượng và khả năng tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển.
Mô hình trường dân tộc nội trú được Trung Quốc triển từ những năm 50 và 60 của thế kỷ XX, một số tỉnh và khu tự trị bắt đầu thành lập trường dân tộc nội trú. Đối tượng được theo học tại các trường dân tộc nội trú là con em DTTS vùng xa xôi và miền núi. Học sinh của trường dân tộc nội trú được hưởng trợ cấp sinh hoạt và trợ cấp học tập. Mức trợ cấp hiện nay đã tăng lên theo tiêu chuẩn được chính quyền trung ương quy định dưới dạng ngân sách phân bổ, trong khi các tỉnh, thành phố và khu tự trị tự quyết định mức chi tiết dựa trên điều kiện kinh tế địa phương. Chính sách ưu đãi đối với thí sinh DTTS bắt đầu thực hiện từ năm 1950. Từ năm 1978 đến nay, các tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc Trung ương đều có chính sách ưu đãi đối với thí sinh DTTS trong việc thi cử. Khi thi vào các trường trung học phổ thông, trường chuyên nghiệp trung cấp hoặc đại học, thí sinh DTTS được cộng thêm điểm. Đối với thí sinh thuộc diện 10 DTTS hoặc 15 huyện khó khăn được cộng thêm 20 điểm, thí sinh của 36 huyện khác được cộng thêm 10 điểm, thí sinh thuộc năm thành phố: Nam Ninh, Liễu Châu, Quế Lâm, Ngô Châu, Bắc Hải được cộng thêm ít điểm hơn. Đối với các chuyên ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, y học, sư phạm, Nhà nước có chính sách chiêu sinh ưu đãi đối với học sinh của vùng DTTS, sau khi tốt nghiệp học sinh buộc phải trở về địa phương mình công tác.
Trung Quốc xác định hình thức dự bị đại học là một hình thức đặc thù của giáo dục DTTS nhằm thực hiện phương châm giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chính sách dân tộc của Nhà nước. Giáo dục dự bị đại học của Trung Quốc được bắt đầu thực hiện từ năm 1951 tại Đại học Dân tộc Trung ương. Tháng 3/1984, Bộ Giáo dục và Ủy ban Dân tộc Trung ương ban hành Ý kiến về làm tốt công tác dự bị đại học. Cho đến nay, Trung Quốc có hàng trăm trường đại học mở lớp dự bị đại học, với hàng chục nghìn học sinh DTTS tham gia.
Công tác đào tạo cán bộ DTTS được Đảng Cộng sản Trung Quốc rất coi trọng. Bên cạnh hệ thống các trường dân tộc nội trú, Trung Quốc cũng chú trọng phát triển hệ thống các trường đại học, học viện dân tộc nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ cấp cao của các DTTS. Từ tháng 8/1950, Học viện Dân tộc Tây Bắc thành lập tại Lan Châu, tỉnh Cam Túc. Ngày 24/11/1950, Chính phủ Trung Quốc đã phê duyệt Chương trình mở rộng đào tạo cán bộ người DTTS. Chương trình quy định: từ Trung ương đến cấp tỉnh, cấp huyện phải mở rộng đào tạo cán bộ DTTS, đào tạo cán bộ chính trị là chính, đồng thời đào tạo cán bộ chuyên môn (Teng Chengda (Đằng Thành Đạt), 96). Với sự quan tâm, tạo điều kiện của Chính phủ, các trường đại học đã mở các lớp đào tạo chuyên gia người DTTS và vùng DTTS. Chương trình cũng xác định nhiệm vụ của chính quyền địa phương phải có chính sách ưu đãi để các trường hiện đại hóa trang thiết bị dạy học, đào tạo cán bộ giảng dạy và cán bộ quán lý, nâng cao chất lượng dạy học, điều chỉnh kết cấu chuyên ngành để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS. Để đảm bảo vùng DTTS được thụ hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước, Ủy ban Dân tộc Trung ương yêu cầu khi tuyển sinh, học sinh DTTS phải chiếm hơn 70% đối với Đại học Dân tộc Trung ương, các học viện dân tộc khác tỷ lệ này là 65% (Teng Chengda (Đằng Thành Đạt), 203). Ngoài ra, các trường đại học, cao đẳng của vùng DTTS có tỷ lệ tương ứng tuyển chọn và đào tạo học sinh DTTS.
Việc đào tạo, sử dụng cán bộ là người DTTS có ý nghĩa then chốt để duy trì bình đẳng dân tộc, thực hiện tự trị khu vực dân tộc, thực hiện cùng phồn vinh của các dân tộc. Cán bộ là người DTTS sẽ am hiểu lịch sử, hiện trạng, ngôn ngữ, tâm lý, phong tục, tập quán của dân tộc mình, gắn bó với sản xuất và sinh hoạt của dân tộc mình. Đội ngũ cán bộ là người DTTS đóng vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với các DTTS. Đào tạo, sử dụng cán bộ là người DTTS sẽ tăng cường lãnh đạo của Đảng, làm tốt công tác dân tộc, tăng cường đoàn kết dân tộc và thống nhất góp phần phát triển kinh tế - xã hội của DTTS. Hiện nay, nguồn cán bộ là người DTTS chủ yếu gồm học sinh tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp, bộ đội xuất ngũ, học sinh tốt nghiệp các trường trung học phổ thông (Teng Chengda (Đằng Thành Đạt), 197). Bộ Giáo dục Trung Quốc tổ chức những trường trung học nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ là người DTTS cho các khu tự trị. Kinh phi học tập, các khoảng sinh hoạt phí, y tế đều do chính quyền hỗ trợ. Nhờ những chính sách ưu đãi đặc thù của cả chính quyền Trung ương và địa phương nên các lớp đào tạo đội ngũ cán bộ cho khu tự trị được nâng nên cả về số lượng và chất lượng.
Song song với hệ thống các trường đại học, cao đẳng thì các trường Đảng Trung Quốc cũng tích cực tham gia đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng DTTS. Tháng 5/1964, Hội nghị Viện trưởng của các học viện dân tộc xác định: “Nhiệm vụ hàng đầu của các học viện dân tộc là đào tạo cán bộ chính trị của các dân tộc thiểu số”. Hệ thống các trường Đảng được xây dựng ở cả các tỉnh, thành phố và huyện, đã góp phần đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý ở các cấp độ khác nhau. Trường Đảng Trung ương và địa phương liên tục mở lớp đào tạo cán bộ DTTS, cử những cán bộ thanh niên DTTS học tập tại các trường đại học hoặc học viện dân tộc.
Chính sách luân chuyển cán bộ đến làm việc tại các vùng đồng bào DTTS, vùng miền núi, vùng khó khăn được Trung Quốc đẩy mạnh. Chủ tịch Mao Trạch Đông nhấn mạnh: “nhất định phải hỗ trợ các dân tộc thiểu số bồi dưỡng cán bộ của họ, đoàn kết quảng đại quần chúng của các dân tộc thiểu số” (Phòng nghiên cứu chính sách hiệp hội sự vụ dân tộc Trung Quốc, tr.42 - 45). Từ những năm 90 của thế kỷ XX, hàng năm Trung Quốc thường xuyên cử cán bộ DTTS làm công tác thực tế tại cơ quan nhà nước Trung ương, vùng kinh tế phát triển và ngược lại. Hình thức luân chuyển cán bộ được diễn ra hai chiều: luân chuyển cán bộ thuộc khu vực DTTS khó khăn đến làm việc tại các cơ quan Trung ương, vùng kinh tế phát triển và luân chuyển cán bộ đang công tác tại các cơ quan Trung ương, khu vực kinh tế phát triển đến vùng DTTS còn khó khăn, chậm phát triển. Chính sách luân chuyển cán bộ giúp đóng góp cho việc đào tạo, bồi dưỡng DTTS, nhân viên kỹ thuật cho các địa phương, đồng thời góp phần thắt chặt quan hệ gắn bó, xây đắp tình cảm với nhân dân các dân tộc địa phương. Thông qua chính sách luân chuyển, đa số các cán bộ tham gia luân chuyển đều trưởng thành hơn và một số lượng lớn cán bộ giữ các chức vụ lãnh đạo cao hơn, phát huy được vai trò quan trọng của cá nhân, đóng góp cho sự phát triển của đất nước và địa phương. Trong Cương lĩnh cộng đồng của Hội nghị hiệp thương nhân dân Trung Quốc được thông qua vào ngày 29/9/1949 đã xác định: “Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương nên giúp đỡ các dân tộc thiểu số phát triển sự nghiệp chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục (Điều 53)" (Ban Công tác Mặt trận Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, 1290). Hiện nay, Trung Quốc vẫn tiếp tục duy trì chính sách hỗ trợ nhân lực từ các khu vực phát triển hơn cho vùng DTTS, thông qua các hình thức như điều động giáo viên, bác sĩ, chuyên gia, cán bộ kỹ thuật, nhà khoa học và cán bộ quản lý. Các chính sách này đã góp phần quan trọng “bù đắp thiếu hụt nhân lực” trong ngắn và trung hạn, trong khi đào tạo nhân lực tại chỗ là giải pháp dài hạn.
Trong bối cảnh phát triển ngày càng nhanh cùng với sự cạnh tranh giữa các khu vực ngày càng quyết liệt, Trung Quốc đã quan tâm, tập trung đào tạo và phát triển nhân tài vùng DTTS. Năm 2004, Ủy ban Dân tộc Trung ương và Bộ Giáo dục Trung Quốc ra Quyết định về gắng sức đào tạo nhân tài cao cấp dân tộc thiểu số. Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nhân tài DTTS ở trình độ cao, đặc biệt trong các lĩnh vực mà vùng dân tộc đang thiếu nhân lực như giáo dục, khoa học - công nghệ, y tế, công nghệ thông tin, kinh tế và quản lý công. Hiện nay, Trung Quốc tiếp tục triển khai Chương trình đào tạo nhân tài DTTS trình độ cao, trong đó tuyển sinh và đào tạo học viên DTTS, đặc biệt từ các khu vực miền Tây và vùng dân tộc. Chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhân tài DTTS cho thấy Trung Quốc không chỉ quan tâm đến số lượng lao động mà ngày càng chú trọng xây dựng đội ngũ nhân lực tinh hoa, nhân lực chuyên môn và nhân lực lãnh đạo từ chính các cộng đồng DTTS.
Các chính sách phát triển nguồn nhân lực vùng đồng bào DTTS của Trung Quốc hiện nay không chỉ triển khai chính sách riêng cho “nguồn nhân lực”, mà ngày càng lồng ghép phát triển nhân lực vùng DTTS vào chính sách giáo dục, việc làm, đào tạo nghề, phát triển nhân tài và phát triển vùng. Các chính sách phát triển nhân lực DTTS đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ chính sách “hỗ trợ vùng DTTS” sang “nâng cao năng lực con người ở vùng DTTS”.
Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, văn hóa, tộc người. Nhiều nhóm tộc người của hai quốc gia có mối quan hệ xuyên biên giới, mối quan hệ đồng tộc thân thiết. Hệ thống chính sách của hai quốc gia cũng có nhiều điểm tương đồng, có thể nghiên cứu học hỏi lẫn nhau để tăng tính hiệu quả trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc, trong đó có chính sách phát triển nhân lực DTTS.
3. Một số hàm ý chính sách cho Việt Nam trong phát triển nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Thứ nhất, chuyển từ chính sách hỗ trợ trực tiếp “đầu vào” sang chính sách phát triển năng lực nhân lực dân tộc thiểu số. Thực hiện chuyển mạnh tư duy từ “đầu tư cho vùng khó khăn” sang “đầu tư để người dân vùng khó khăn có năng lực tự phát triển”. Chính sách dân tộc không chỉ tập trung vào hỗ trợ nhà ở, cơ sở hạ tầng, sinh kế hay trợ cấp an sinh xã hội mà phải coi con người là nguồn lực trung tâm. Theo đó, cần xây dựng các chính sách, chương trình phát triển nguồn nhân lực DTTS theo hướng tập trung đầu tư cho giáo dục phổ thông, tạo nền tảng vững chắc cho nguồn nhân lực DTTS. Tiếp theo là những chính sách đào tạo nghề, trong đó tập trung vào các kỹ năng nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường như kỹ năng số, kỹ năng công nghệ, kỹ năng ngôn ngữ và hội nhập. Về dài hạn các chính sách cần hướng đến hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao tại chỗ. Các chính sách “ưu đãi” trực tiếp là cần thiết để bù đắp bất lợi về địa lý, điều kiện kinh tế và cơ hội tiếp cận dịch vụ. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào hỗ trợ lâu dài, chính sách có thể tạo ra tâm lý phụ thuộc, tính ỷ lại. Chính sách phát triển nhân lực DTTS muốn tạo ra tính bền vững phải chuyển trọng tâm từ “đầu tư cho vùng” sang “đầu tư cho con người trong vùng”, từ hỗ trợ ngắn hạn sang nâng cao năng lực dài hạn, từ giải quyết thiếu hụt nhân lực sang chủ động kiến tạo nguồn nhân lực mới, từ bổ sung nhân lực từ nơi khác sang phát huy nguồn nhân lực tại chỗ.
Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Với địa hình đồi núi chia cắt, đi lại khó khăn, cần nghiên cứu xây dựng hệ sinh thái giáo dục linh hoạt vùng DTTS, thay vì chỉ dựa vào mô hình trường học truyền thống. Thực tế tại Việt Nam đã thực hiện nhiều mô hình linh hoạt khác nhau như trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú; trung tâm giáo dục nghề nghiệp; đào tạo từ xa và học trực tuyến; các chương trình dự bị và chuyển tiếp; bồi dưỡng ngắn hạn theo nhu cầu; đào tạo tại cộng đồng; mô hình “đào tạo lưu động” ở vùng đặc biệt khó khăn. Đặc biệt, hiện nay Việt Nam đang triển khai đồng bộ, quyết liệt xây dựng xây dựng hệ thống trường phổ thông nội trú liên cấp nhằm tạo nền tảng giáo dục và nhân lực vững chắc cho vùng đồng bào DTTS.
Bên cạnh việc xây dựng các trường nội trú liên cấp, cần có cơ chế đảm bảo các trường dạy nghề, trường cao đẳng, đại học được xây dựng hợp lý tại các vùng đồng bào DTTS và miền núi. Xây dựng hệ thống các cơ sở giáo dục từ phổ thông đến dạy nghề, cao đẳng, đại học không chỉ giúp nâng cao trình độ dân trí mà còn giúp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ngay tại chỗ cho vùng đồng bào DTTS và miền núi. Cần xác định giáo dục nghề nghiệp là một phương thức quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và việc làm mang tính bền vững vùng đồng bào DTTS. Với thực trạng đào tạo nghề tại Việt Nam còn nhiều bất cập, nội dung chương trình còn mang tính lý thuyết, chưa sát với thực tế. Do đó, cần có sự đổi mới mạnh mẽ từ nội dung, hình thức, cách thức quản lý giáo dục nghề nghiệp để khắc phục tình trạng đào tạo nghề chưa thật sự gắn với sinh kế và thị trường lao động tại vùng DTTS. Với từng vùng có thể ưu tiên các nhóm lĩnh vực khác nhau như: nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông - lâm sản, du lịch cộng đồng, thương mại điện tử, logistics miền núi, kinh tế rừng, sản phẩm OCOP, nghề thủ công truyền thống, bảo tồn và khai thác giá trị văn hóa, dịch vụ số... Việt Nam có thể vận dụng theo hướng xây dựng “mỗi vùng một hệ sinh thái nhân lực”: vùng có lợi thế du lịch, sẽ tập trung phát triển nhân lực du lịch cộng đồng, ngoại ngữ, marketing số; vùng có kinh tế rừng sẽ tập trung phát triển nhân lực lâm nghiệp, chế biến gỗ, kinh tế dược liệu; vùng nông nghiệp hàng hóa tập trung phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật nông nghiệp, thương mại điện tử, logistics; vùng biên giới, tập trung phát triển nhân lực thương mại biên giới, logistics, ngoại ngữ, kinh tế cửa khẩu; vùng giàu bản sắc văn hóa tập trung phát triển nhân lực bảo tồn, công nghiệp văn hóa, du lịch văn hóa. Đào tạo nghề cần gắn với doanh nghiệp, hợp tác xã và chuỗi giá trị, tránh tình trạng “học xong nhưng không có việc làm”.
Thứ ba, ưu tiên xây dựng, phát triển đội ngũ nhân lực “tại chỗ”. Thực tế địa hình đồi núi, đi lại khó khăn, kinh tế - xã hội chưa đồng đều dẫn đến tính trạng thiếu nhân lực có năng lực chuyên môn, nhân lực kỹ thuật, giáo viên, nhân viên y tế tại các vùng DTTS của Việt Nam. Việc xây dựng chiến lược “người địa phương đào tạo người địa phương, người địa phương phục vụ địa phương” có ý nghĩa rất thiết thực và quan trọng. Có thể thiết kế cơ chế tuyển chọn học sinh, sinh viên DTTS có năng lực, đào tạo theo nhu cầu của từng địa bàn và có chính sách cam kết việc làm sau đào tạo. Đặc biệt, cần hình thành các “nguồn nhân lực hạt nhân” tại cấp xã, thôn, bản, bao gồm: cán bộ trẻ, giáo viên, nhân viên y tế, cán bộ khuyến nông, cán bộ chuyển đổi số, doanh nhân trẻ và người có uy tín có năng lực tổ chức cộng đồng.
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS cần tập trung vào những lĩnh vực vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính cơ bản lâu dài, bao gồm về năng lực, trình độ chuyên môn; năng lực điều hành, tổ chức và quản lý; tin học; quản lý hành chính; lý luận chính trị; ngôn ngữ, đặc biệt là tiếng DTTS để có thể giao tiếp và hiểu được tâm tư nguyện vọng của đồng bào. Cán bộ vùng DTTS phải có khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn, khả năng chỉ đạo, xây dựng và triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với bản sắc từng địa phương. Muốn vậy, đội ngũ cán bộ vùng DTTS phải là người hiểu biết chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phải là người am hiểu thực tế, tình hình địa phương, nắm được cái chung, cái riêng, cái đặc thù ở từng địa bàn, lĩnh vực mình phụ trách. Cùng với đó, những cán bộ phải được đào tạo, bồi dưỡng các kỹ năng xử lý các tình huống phát sinh, có đủ bản lĩnh và kỹ năng cần thiết trong xử lý và giải quyết những tình huống bất ngờ có thể xảy ra.
Thứ tư, xây dựng chính sách đặc thù để thu hút, giữ chân và trọng dụng nhân lực chất lượng cao vùng dân tộc thiểu số. Bên cạnh các chính sách phát triển nguồn nhân lực tại chỗ, cần có những chính sách đủ sức hấp dẫn để thu hút, giữ chân và trọng dụng nguồn nhân lực đến và ở lại vùng đồng bào DTTS để làm việc và cống hiến. Không thể chỉ yêu cầu cán bộ, giáo viên, bác sĩ, kỹ sư và chuyên gia “về vùng khó khăn cống hiến” mà phải tạo ra gói chính sách đủ sức hấp dẫn. Các chính sách cần tập trung về: thu nhập và phụ cấp; nhà ở; điều kiện làm việc; cơ hội đào tạo, thăng tiến; môi trường nghề nghiệp; hỗ trợ gia đình; thời gian công tác; chính sách luân chuyển và trở về địa phương. Cần có chính sách riêng đối với nhân lực số và nhân lực trẻ, bởi đây là lực lượng có khả năng tạo ra sự thay đổi nhanh chóng, lâu dài trong quản trị và phát triển kinh tế ở vùng DTTS.
Thứ năm, xây dựng cơ chế liên kết, hỗ trợ “vùng phát triển - vùng khó khăn” trong đào tạo nhân lực. Hiện nay, Việt Nam mới chỉ chủ yếu thực hiện sự hỗ trợ giữa các địa phương thông qua nguồn ngân sách Trung ương và các hoạt động thiện nguyện mang tính nhỏ lẻ. Trong thời gian tới, Việt Nam có thể phát triển, nhân rộng hơn mô hình “địa phương phát triển hỗ trợ địa phương khó khăn” nhưng cần nâng cấp, dịch chuyển từ hỗ trợ cơ sở vật chất sang hỗ trợ năng lực. Nội dung hỗ trợ có thể đa dạng từ đào tạo giáo viên; đào tạo cán bộ xã; đào tạo kỹ năng số, cho đến các hoạt động đào tạo nghề; tư vấn khởi nghiệp; chuyển giao công nghệ; nghiên cứu sinh kế; xây dựng chương trình đào tạo đặc thù. Như vậy, sẽ chuyển từ hỗ trợ “cho nguồn lực” sang “chuyển giao năng lực” giữa các địa phương.
Tăng cường chính sách luân chuyển cán bộ đối với vùng DTTS. Việc luân chuyển cán bộ phải được tiến hành nhiều chiều, bao gồm luân chuyển từ trên xuống, từ dưới lên và luân chuyển ngang. Luân chuyển cán bộ từ các bộ, ngành ở Trung ương, các địa phương có điều kiện phát triển về vùng DTTS và ngược lại, luân chuyển cán bộ từ các vùng DTTS về các bộ, ngành ở Trung ương và các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển. Đối với công tác luân chuyển ngang thì cần có sự luân chuyển từ tỉnh, thành phố khu vực này sang tỉnh, thành phố khu vực khác. Đặc biệt, cần có nghị quyết, chính sách trọng điểm về công tác luân chuyển cán bộ đối với các vùng DTTS ở một số vùng còn thiếu, yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của địa phương và đất nước. Có những chính sách, biện pháp đãi ngộ, khuyến khích kịp thời để cán bộ được luân chuyển yên tâm cống hiến, phát huy hết khả năng cũng như trí tuệ trong việc đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng tại các vùng DTTS. Việc lựa chọn cán bộ khi được luân chuyển phải là người am hiểu về những vấn đề ở vùng DTTS hoặc phải được đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn những kiến thức cơ bản nhất về vùng DTTS để khi luân chuyển họ có thể hòa nhập và đóng góp được ngay cho sự phát triển của vùng.
Thứ sáu, phát triển nhân lực số trở thành một trụ cột của chính sách dân tộc. Việt Nam trong những năm gần đây rất quan tâm và đầu tư đến lĩnh vực phát triển khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Do đó, để nắm bắt và theo kịp được với nhu cầu và sự phát triển nhanh chóng của chuyển đổi số, cần xác định phát triển nhân lực số vùng đồng bào DTTS trở thành một trong những trụ cột quan trọng của chính sách dân tộc. Xác định nhân lực số vùng DTTS là một bộ phận của nguồn nhân lực chất lượng cao, có thể xây dựng mạng lưới: mỗi xã một nhóm nhân lực số; mỗi thôn, bản một hạt nhân số; mỗi cộng đồng một lực lượng hỗ trợ chuyển đổi số. Đội ngũ này có thể hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thương mại điện tử, thanh toán số, quảng bá sản phẩm, tiếp cận thông tin thị trường, học tập trực tuyến và ứng dụng công nghệ vào sản xuất.
4. Kết luận
Phát triển nguồn nhân lực DTTS là một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển bền vững, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Thông qua việc nghiên cứu chính sách phát triển nguồn nhân lực DTTS của Trung Quốc có thể thấy, quốc gia này đã triển khai tương đối đồng bộ các giải pháp từ giáo dục, đào tạo nghề, thu hút và sử dụng nhân tài đến hoàn thiện cơ chế hỗ trợ đặc thù cho các khu vực DTTS. Những điểm tương đồng về văn hóa, lịch sử, tộc người giữa Trung Quốc và Việt Nam giúp cho việc học hỏi, tham khảo trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực DTTS có ý nghĩa thiết thực.
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển nhân lực DTTS theo hướng nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường lao động; tăng cường đầu tư cho vùng đồng bào DTTS; tăng cường luân chuyển cán bộ; xây dựng cơ chế phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, trí thức là người DTTS; đồng thời tạo môi trường thuận lợi để nguồn nhân lực DTTS phát huy năng lực, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Việc học hỏi có chọn lọc những kinh nghiệm của các quốc gia tương đồng gắn với điều kiện thực tiễn của Việt Nam sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực DTTS, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn phát triển mới./.
----------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIV, tập I, Nxb CTQG-ST.
(2) Teng Chengda (Đằng Thành Đạt) (2010), Nghiên cứu so sánh chính sách dân tộc của Việt Nam và Trung Quốc thời hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
(3) Trịnh Tây, người dịch: Đặng Thúy Thúy; hiệu đính và giới thiệu: TS. Dương Ngọc Dũng (2012), Dân tộc và Tôn giáo Trung Quốc, Nxb Truyền bá Ngũ Châu và Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.
(4) Nguyễn Thanh Xuân (2026), Tìm hiểu về dân tộc và chính sách dân tộc ở Trung Quốc, https://dantoctongiao.vn/tim-hieu-ve-dan-toc-va-chinh-sach-dan-toc-o-trung-quoc-1776725634263.htm.
(5) Ban biên tập Công tác dân tộc của Trung Quốc đương đại (1989), Những sự kiện lớn của công tác dân tộc Trung Quốc đương đại, Nxb Dân tộc, tr.115.
(7) Phòng Nghiên cứu chính sách hiệp hội sự vụ dân tộc Trung Quốc (1994), Lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc bàn về vấn đề dân tộc, Nxb Nhân dân Bắc Kinh, tr.42 - 45
TS Nguyễn Văn Tạo - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả