Nội dung quản lý nhà nước về quan hệ lao động
Quan hệ lao động được xem xét trên những khía cạnh khác nhau, nhưng tựu chung đều cho rằng đây là quan hệ được xác lập giữa một bên là người lao động với một bên là người sử dụng lao động. Tuy nhiên, quan hệ xã hội này không chỉ là quan hệ đơn thuần giữa người lao động và người sử dụng lao động, mà là tập hợp các mối quan hệ trong thị trường lao động với nhiều chủ thể liên quan chặt chẽ với nhau về quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ và lợi ích, nhưng chủ yếu nhất là người lao động/tổ chức đại diện người lao động, người sử dụng lao động/tổ chức đại diện người sử dụng lao động và nhà nước.
![]() |
|
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quan hệ lao động (ảnh minh họa) |
Theo quy định của Bộ luật Lao động 2019, Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động tập thể.
Trong quan hệ lao động, nhà nước có vai trò đặc biệt, định hướng và thực hiện các chính sách, pháp luật, các công cụ hỗ trợ để thúc đẩy sự phát triển của quan hệ lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Theo đó nội dung quản lý nhà nước về quan hệ lao động gồm các nhóm nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quan hệ lao động phù hợp với thể chế chính trị và các giai đoạn phát triển của đất nước.
- Hướng dẫn, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển quan hệ lao động.
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát thực thi chính sách, pháp luật về quan hệ lao động.
- Hỗ trợ xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.
Một số kết quả đạt được trong công tác quản lý nhà nước về quan hệ lao động
Trong mỗi giai đoạn phát triển, chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về quan hệ lao động được quy định, củng cố phù hợp với yêu cầu thực tiễn phát triển của quan hệ lao động. Công tác quản lý nhà nước về quan hệ lao động thời gian qua đạt được một số kết quả: (i) Hệ thống pháp luật về lao động, quan hệ lao động được hoàn thiện, tạo lập khuôn khổ pháp lý minh bạch, bình đẳng, bảo đảm hài hòa quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động; (ii) bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về quan hệ lao động được thiết lập từ trung ương tới địa phương; hoạt động quản lý nhà nước về quan hệ lao động tiếp tục đổi mới về phương thức quản lý để thực hiện 02 nhiệm vụ quản lý và hỗ trợ phát triển quan hệ lao động; (iii) Phổ biến pháp luật được triển khai toàn diện, đa dạng hình thức, nâng cao nhận thức và ý thức tuân thủ của doanh nghiệp và người lao động; (iv) Thanh tra, kiểm tra tập trung vào vấn đề trọng điểm, kịp thời chấn chỉnh vi phạm, thúc đẩy xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ; (v) Tiếp tục phát huy vai trò của các thiết chế ba bên như Hội đồng tiền lương quốc gia, củng cố và thúc đẩy các hoạt động của Ủy ban Quan hệ lao động; (vi) Các thiết chế hòa giải, trọng tài được kiện toàn, nâng cao năng lực và bước đầu phát huy hiệu quả trong giải quyết tranh chấp lao động.
Bối cảnh tác động đến quan hệ lao động ở Việt Nam trong thời gian tới
Theo quan điểm của người viết, một số tình hình kinh tế-xã hội có thể ảnh hưởng đến quan hệ lao động trong thời gian tới như sau:
- Yêu cầu về hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi tiếp tục phải nghiên cứu, hoàn thiện thể chế về quan hệ lao động để bảo đảm tính đồng bộ.
- Hội nhập quốc tế tiếp tục diễn ra sâu rộng. Việt Nam phải tuân thủ nghĩa vụ trong các FTA thế hệ mới và tổ chức quốc tế, đồng thời đáp ứng tiêu chuẩn lao động của từng thị trường, nhất là trong các chuỗi cung ứng toàn cầu.
- Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế; đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong các lĩnh vực; yêu cầu thu hút đầu tư, phát triển kinh tế, phát triển doanh nghiệp; phát triển mạnh kinh tế tư nhân đặt ra những yêu cầu điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ phù hợp với tình hình thực tiễn.
- Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, đặt ra những yêu cầu về đổi mới phương thức quản lý, cơ chế phối hợp, bố trí biên chế, nguồn lực trong xử lý những vấn đề liên quan đến quan hệ lao động.
Một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ
Theo quan điểm của người viết, trong thời gian tới cần xem xét thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
- Tiếp tục đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền trong xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ. Đổi mới, tăng cường công tác thông tin, truyền thông chính sách; thường xuyên, kịp thời cung cấp đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về lao động; kịp thời ngăn chặn thông tin sai lệch, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước.
- Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quan hệ lao động, trong đó: (i) Nghiên cứu, hoàn thiện các quy định pháp luật về quan hệ lao động để bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật; (ii) Kiện toàn tổ chức bộ máy, bố trí cán bộ chuyên trách thực hiện nhiệm vụ quản lý tổ chức đại diện người lao động và quản lý, hỗ trợ phát triển quan hệ lao động; chú trọng thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực người làm công tác quan hệ lao động; (iii) Đổi mới cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát, bảo đảm phù hợp với chủ trương của Đảng về sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra; (iv) Đổi mới mới nội dung, phương thức, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan về quan hệ lao động ở địa phương phù hợp với mô hình, tổ chức bộ máy mới; (v) Chú trọng áp dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về quan hệ lao động; (vi) Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách đầu tư, huy động vốn, quy hoạch, triển khai các dự án về nhà ở, thiết chế văn hóa, công trình phúc lợi để cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động.
- Tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ thúc đẩy các hoạt động đối thoại, thương lượng tập thể trên cơ sở phát huy vai trò, nhiệm vụ của các bên trong quan hệ lao động, đặc biệt là các tổ chức đại diện, đồng thời phát huy vai trò của cơ quan chức năng hỗ trợ đối thoại, thương lượng tập thể bảo đảm nguyên tắc của quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ về giải quyết tranh chấp lao động trong đó: (i) Củng cố, vận hành các thiết chế hòa giải, trọng tài theo đúng cơ chế của quan hệ lao động trong kinh tế thị trường; chú trọng thu hút, bồi dưỡng nâng cao năng lực hòa giải viên lao động, trọng tài viên lao động; phát huy vai trò của thiết chế hòa giải, trọng tài lao động trong hỗ trợ phát triển quan hệ lao động; (ii) Nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp lao động tập thể theo pháp luật, giải quyết hài hòa lợi ích các bên; (iii) Nghiên cứu, thí điểm bố trí một số hòa giải viên lao động, trọng tài viên lao động chuyên trách tại một số tỉnh, thành phố trọng điểm phù hợp với điều kiện thực tiễn, nâng cao năng lực thực thi nhiệm vụ theo quy định pháp luật; (iv) Thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình quan hệ lao động trong doanh nghiệp để kịp thời hỗ trợ, giải quyết các vấn đề phát sinh./.
Nguyễn Vỹ
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả