Từ khóa: nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; Quân đội nhân dân Việt Nam; tư tưởng Hồ Chí Minh.
Abstract: According to President Ho Chi Minh, theoretical research and the summarization of practical experience constitute an important component of ideological work, contributing to the building of a Party capable of meeting the requirements of the revolutionary cause. In the current context, conducting theoretical research and reviewing practical experience within the military is an urgent necessity, helping to clarify emerging theoretical issues while drawing lessons learned to supplement and further develop military and national defense theory. This article focuses on clarifying the core contents of Ho Chi Minh’s Ideology on theoretical research and the summarization of practical experience and, on that basis, proposes solutions for applying his ideology to these activities in Vietnam People’s Army today.
Keywords: theoretical research and practical review; Vietnam People’s Army; Ho Chi Minh’s Ideology.
Hội nghị Tổng
kết công tác phối hợp nghiên cứu lý luận - thực tiễn về quốc phòng trong sự
nghiệp bảo vệ Tổ quốc năm 2024 (Ảnh: báo Quân đội nhân dân, https://www.qdnd.vn/)
1. Đặt vấn đề
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Người khẳng định nội dung này là một hoạt động cơ bản trong công tác tư tưởng của Đảng, qua đó củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng, phát triển lý luận bám sát thực tiễn cách mạng. Vận dụng tư tưởng của Người vào hoạt động quân sự hiện nay có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học quân sự, phát triển lý luận quân sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của Quân đội. Đặc biệt, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Trước yêu cầu mới của tình hình thế giới, khu vực và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đặc biệt là các hình thái chiến tranh mới, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn. Theo đó, việc làm rõ nội dung theo tư tưởng Hồ Chí Minh về nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và vận dụng trong Quân đội hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta trong giai đoạn mới.
2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn
Xuyên suốt quá trình cách mạng, nhất là từ khi sáng lập, giáo dục, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn thể dân tộc Việt Nam, trên cơ sở thấm nhuần quan điểm của V.I.Lênin “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”(1) và “nhờ có lý luận cách mạng đúng đắn, nó không phải là giáo điều và chỉ hình thành hẳn được do có sự liên hệ chặt chẽ với thực tiễn của một phong trào thật sự quần chúng và thật sự cách mạng, thì việc tạo ra được những điều kiện đó mới được thuận lợi”(2), Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Nghiên cứu lý luận, theo Người là hoạt động tìm hiểu, làm sáng tỏ học thuyết khoa học, cách mạng của các nhà kinh điển mác xít, tiếp thu lý luận đó cũng như tư tưởng tiến bộ của các nhà tư tưởng cả ở phương Đông và phương Tây trong lịch sử, qua đó vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn và bổ sung, phát triển lý luận.
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, lý luận cách mạng như ngọn đèn pha soi đường, chỉ lối để Đảng cách mạng dẫn dắt cách mạng đi tới thành công. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh (1927), Người khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(3). Thực tế cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành thời gian đủ dài để nghiên cứu, tìm hiểu về học thuyết của C.Mác, từ quá trình tìm hiểu nghiêm túc gắn với quá trình bôn ba hoạt động ở nước ngoài, Người thấu hiểu vai trò đặc biệt quan trọng của lý luận cách mạng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng Đảng cách mạng chân chính. Theo đó, Người quyết định lựa chọn con đường “cách mạng vô sản” cho con đường cách mạng Việt Nam; đồng thời Người khẳng định dứt khoát cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga và chủ nghĩa Lênin. Từ đó, Người đã chuẩn bị đầy đủ các tiền đề về tư tưởng, lý luận và tổ chức dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Không dừng lại ở đó, từ nghiên cứu, thấm nhuần các quan điểm cơ bản trong học thuyết Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành tuyên truyền, giác ngộ giai cấp công nhân Việt Nam, các tầng lớp nhân dân và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, qua đó kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo ra sức mạnh tổng hợp to lớn trong thực tiễn đấu tranh cách mạng.
Trong nghiên cứu lý luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán nguyên tắc học tập lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin không phải mang tính chất kinh viện, mà để áp dụng vào giải quyết thực tế công việc: “Phải nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và áp dụng vào công tác hàng ngày”(4). Bên cạnh đó, Người cho rằng, nghiên cứu lý luận cần tránh kiểu nửa vời, hình thức, sáo rỗng và không nắm được bản chất vấn đề như kiểu “thầy bói xem voi”. Vì vậy, Người yêu cầu học tập, nghiên cứu lý luận phải nghiêm túc nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng và cần tránh vì yếu về lý luận dẫn đến sai lầm trong công tác thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “vì trình độ lý luận thấp kém cho nên đứng trước nhiệm vụ cách mạng ngày càng mới và phức tạp, trong việc lãnh đạo Đảng ta không khỏi lúng túng, không tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm”(5). Không dừng lại ở đó, Người còn chỉ rõ tác hại của căn bệnh chủ quan, duy ý chí, coi khinh lý luận. Người nhấn mạnh: “Nguyên nhân của bệnh chủ quan là: Kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông”(6).
Bằng trải nghiệm phong phú và trên cương vị người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ việc nghiên cứu lý luận chính là cơ sở của công tác tư tưởng để xây dựng Đảng ta thành một Đảng cách mạng chân chính. Tuy nhiên, Người cho rằng, để đạt được mục tiêu đó, toàn bộ cán bộ, đảng viên cần hiểu rõ vai trò của nghiên cứu lý luận, đồng thời cần phát huy trách nhiệm của toàn thể cán bộ, đảng viên trong truyền bá lý luận cách mạng vào phong trào cách mạng, qua đó phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân trong đấu tranh cách mạng. Đây là điều Chủ tịch Hồ Chí Minh trăn trở và nhất quán xác định: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”(7).
Mặt khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn là hai nội dung có quan hệ thống nhất biện chứng với nhau trong tiến hành công tác tư tưởng của Đảng. Theo Người, tổng kết thực tiễn là việc khái quát, rút ra các thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm từ những hoạt động thực tiễn của quá trình đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thông qua tổng kết thực tiễn mà lý luận được bổ sung, phát triển và dẫn dắt thực tiễn cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Từ cảm giác tiến đến lý luận, từ lý luận tiến đến hành động có kết quả, quá trình hiểu biết đến đó có thể gọi là hoàn thành. Song, vì quá trình hiểu biết cứ tiến mãi, nên nói chung vẫn là chưa hoàn thành. Bất kỳ trong giới tự nhiên hay trong xã hội, mâu thuẫn và đấu tranh nội bộ cứ tiến mãi, phát triển mãi. Sự hiểu biết cũng phải tiến tới mãi, phát triển mãi. Cho nên người lãnh đạo cách mạng phải khéo sửa đổi khi có những sai lầm trong tư tưởng, lý luận, kế hoạch và nghị quyết của mình. Đồng thời, khi giai đoạn này phát triển lên giai đoạn khác, thì sự hiểu biết của người lãnh đạo và chiến sĩ cách mạng cũng phải tiến theo”(8).
Với trí tuệ uyên bác và trải nghiệm thực tiễn vô cùng phong, phú, sinh động qua nhiều thể chế chính trị khác nhau, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rõ mối quan hệ giữa lý luận và thực hành, và cần qua chính hoạt động thực tiễn để kiểm nghiệm, bổ sung và làm phong phú lý luận. Vì vậy, Người cho rằng, việc bổ sung vào học thuyết Mác cơ sở thực tiễn là vấn đề tất yếu khách quan: “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”(9). Từ cách tiếp cận rất khoa học đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm “chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn là ở châu Âu”. Đồng thời, từ tổng kết thực tiễn phong trào cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã rút ra luận điểm hết sức sáng tạo: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người culi biết phản đối, nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản, làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917”(10). Sau này, chính Người cùng Đảng ta đã nắm lấy và phát huy sức mạnh của “chủ nghĩa dân tộc” dựa trên “chủ nghĩa yêu nước Việt Nam”, tạo thành sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi trong đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến, kiến quốc và cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Ngoài ra, từ tổng kết thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự phát triển về tư duy lý luận, đi từ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bằng hai ba kế hoạch sang quan điểm “Tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội. Không phải là phiêu lưu làm ẩu, phải thiết thực đi từng bước vững chắc, phải nắm quy luật phát triển của cách mạng, phải tính toán cẩn thận những điều kiện cụ thể, những biện pháp cụ thể, kế hoạch phải chắc chắn cân đối, chớ đem chủ quan của mình thay cho điều kiện thực tế”(11). Cùng với đó, từ tổng kết thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ cần xuất phát từ đặc điểm dân tộc, tránh học tập, vận dụng rập khuôn, máy móc. Người khẳng định: “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác - Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác - Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta”(12) và “chúng ta cũng không thể áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách máy móc, bởi vì nước ta có những đặc điểm riêng của ta”(13).
Như vậy, các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn rất sáng tạo, vừa dựa trên hệ thống lý luận khoa học, cách mạng, vừa giàu tính thực tiễn, đồng thời hoàn toàn xa lạ với các biểu hiện rập khuôn, máy móc, hoặc chủ quan, duy ý chí. Điều này góp phần giúp Đảng ta nghiên cứu, vận dụng trong hoạch định đường lối, quan điểm tiến hành công tác tư tưởng, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam.
3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và những biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới, khu vực, công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn cần tiếp tục được đổi mới và nâng cao chất lượng. Bởi vì, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lý luận phải xuất phát từ thực tiễn, được kiểm nghiệm trong thực tiễn và phục vụ cho thực tiễn. Do vậy, để vận dụng các chỉ dẫn của Người vào việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, cần tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa của công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn trong Quân đội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tư tưởng đúng thì hành động mới khỏi sai lạc và mới làm trọn nhiệm vụ cách mạng được”(13). Theo đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn; xác định nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan nghiên cứu khoa học, mà còn là trách nhiệm của mọi cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên trong toàn quân. Trong thực tế hiện nay, ở một số nơi vẫn còn biểu hiện xem nhẹ nghiên cứu lý luận, hoặc tiến hành tổng kết thực tiễn mang tính hình thức, chưa bám sát yêu cầu nhiệm vụ. Điều đó ảnh hưởng đến chất lượng tham mưu và hiệu quả hoạt động quân sự, quốc phòng. Điều này được Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025 - 2030 chỉ rõ nguyên nhân: “Nhận thức, trách nhiệm, năng lực lãnh đạo, điều hành của một số cấp ủy, người chỉ huy cơ quan, đơn vị có mặt, có nội dung chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ”(15). Do đó, cần tăng cường giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về vai trò của nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn; coi đây là một nhiệm vụ quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; bám sát thực tiễn quân sự, quốc phòng và yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Sự lãnh đạo của Đảng vừa là nguyên tắc bất di, bất dịch, vừa là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của Quân đội nhân dân Việt Nam. Vì vậy, cấp ủy và tổ chức đảng các cấp trong Quân đội cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ đối với hoạt động nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn theo những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Do đó, cần đưa nội dung này vào nghị quyết lãnh đạo thường kỳ; xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Đồng thời thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện; kịp thời biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận cách mạng phải xuất phát từ thực tế khách quan. Vì vậy, nghiên cứu lý luận trong Quân đội cần tập trung vào những vấn đề thực tiễn đang đặt ra như: xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại; chiến tranh công nghệ cao; an ninh phi truyền thống; ứng dụng chuyển đổi số vào xây dựng Quân đội và bảo vệ chủ quyền quốc gia trong điều kiện mới; nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại…
Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị cần đẩy mạnh điều tra, khảo sát, nắm chắc tình hình thực tiễn; thường xuyên tổ chức sơ kết, tổng kết các hoạt động huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, diễn tập, công tác đảng, công tác chính trị và các nhiệm vụ khác. Thông qua đó, phát hiện những vấn đề mới, những khó khăn, hạn chế cần nghiên cứu để bổ sung, hoàn thiện lý luận quân sự, quốc phòng. Đồng thời, phải khắc phục tình trạng nghiên cứu xa rời thực tiễn, hoặc sao chép máy móc những kinh nghiệm không phù hợp với điều kiện cụ thể của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.
Thứ ba, đổi mới nội dung và phương pháp nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh về nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, phương pháp nghiên cứu truyền thống cần được bổ sung và đổi mới phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Nội dung nghiên cứu cần tập trung vào những vấn đề có tính chiến lược, những vấn đề mới nảy sinh trong hoạt động quân sự, quốc phòng như nghiên cứu lý luận bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới; lý luận “xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại”; lý luận xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị; lý luận về xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân và thế trận lòng dân trong giai đoạn mới; lý luận về xây dựng tiềm lực quốc phòng hiện đại,... Theo đó, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại, kết hợp giữa nghiên cứu lý luận với điều tra thực tế, phân tích số liệu dựa trên công nghệ trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, dự báo khoa học và đánh giá thực nghiệm. Việc tổng kết thực tiễn phải bảo đảm tính toàn diện, khách quan, khoa học và có cơ sở thực tiễn vững chắc, bám sát sự phát triển của tình hình thế giới, khu vực và khả năng của nước ta. Bên cạnh đó, cần tăng cường trao đổi học thuật, tổ chức hội thảo khoa học, tọa đàm chuyên đề giữa các cơ quan, đơn vị, học viện, nhà trường quân đội với các cơ sở nghiên cứu ngoài quân đội, nhằm nâng cao chất lượng các kết quả nghiên cứu.
Thứ tư, xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học có trình độ và năng lực toàn diện.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định cán bộ là nhân tố xét đến cùng, quyết định thành công của mọi công việc. Chất lượng, hiệu quả của việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn phụ thuộc rất lớn vào chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu. Do đó, cần chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ này có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn sâu và năng lực nghiên cứu khoa học toàn diện, hệ thống. Cần quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nghiên cứu cả về kiến thức lý luận chính trị, khoa học quân sự, ngoại ngữ, công nghệ thông tin và phương pháp nghiên cứu hiện đại. Đồng thời, cần tạo điều kiện để cán bộ nghiên cứu tham gia nghiên cứu thực tiễn tại đơn vị cơ sở, cơ quan, đơn vị toàn quân, nhất là tham gia nghiên cứu các hoạt động huấn luyện, diễn tập, thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, để tích lũy kinh nghiệm thực tế. Việc kết hợp giữa tri thức lý luận và trải nghiệm thực tiễn sẽ giúp nâng cao chất lượng nghiên cứu và khả năng giải quyết các vấn đề đặt ra đối với đội ngũ này, qua đó nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn của các cơ quan, đơn vị toàn quân.
Thứ năm, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số trong nghiên cứu khoa học quân sự.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ hiện nay đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong hoạt động quân sự và phương thức tiến hành chiến tranh. Vì vậy, Quân đội cần tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các thành tựu khoa học hiện đại vào công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu khoa học quân sự, cơ sở dữ liệu số hóa về lịch sử chiến tranh, nghệ thuật quân sự, khoa học xã hội và nhân văn quân sự, kinh nghiệm huấn luyện, diễn tập và thực hiện nhiệm vụ sẽ giúp nâng cao hiệu quả nghiên cứu, tham mưu và dự báo chiến lược. Đồng thời, cần phát triển các hệ thống dữ liệu thông tin quân sự qua hạ tầng công nghệ thông tin nội bộ do Viettel xây dựng, phục vụ kịp thời việc quản lý, trao đổi, chia sẻ và khai thác kết quả nghiên cứu, tổng kết thực tiễn giữa các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, nhất là đối với các đơn vị nghiên cứu của Quân đội.
4. Kết luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn là những quan điểm toàn diện, sâu sắc, là cơ sở nền tảng định hướng cho hoạt động nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn của Đảng ta qua các giai đoạn cách mạng. Trong điều kiện hiện nay, khi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt ra nhiều yêu cầu mới, việc nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn theo tư tưởng của Người càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác tư tưởng của Đảng nói chung và với Quân đội nói riêng. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan nhằm phát triển lý luận quân sự Việt Nam, mà còn là nhân tố góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ huy, khả năng sẵn sàng chiến đấu và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của Quân đội. Vì vậy, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên, qua đó góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới./.
-------------------------
Ghi chú:
1. V.I.Lênin, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG-ST, H.2005, tr.30.
2. V.I.Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb CTQG-ST, H.2005, tr.8.
3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.289.
4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.100.
5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.91.
6. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.273.
7. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.209.
8. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.128.
9. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.509.
10. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.511.
11. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 13, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.71.
12. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.92.
13. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.97.
14. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.360.
15. Tổng cục Chính trị, Tài liệu nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025 - 2030, Nxb Quân đội nhân dân, H.2025, tr.37.
Trung tá, ThS Nguyễn Văn Thuyên - Học viện Hậu cần, Bộ Quốc phòng
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả