Từ khóa: Đào tạo nghề; chuyển đổi việc làm; đô thị hóa; thu hồi đất nông nghiệp; xã Tam Hưng; an sinh xã hội.
Abstract: Urbanisation in peri-urban areas of Hanoi is changing land-use patterns, employment structures and people's livelihoods, creating an urgent need for vocational training and sustainable employment transitions. Drawing on the case of Tam Hung Commune, this paper analyses the characteristics, structure and needs of the local labour force, and assesses the current situation of vocational training and employment transitions in the context of urbanisation. The findings highlight the need to align vocational training with labour market demand, the adaptive capacity of different labour groups and local socio-economic development conditions. On this basis, the paper proposes solutions focusing on labour classification and training orientation, strengthening linkages between enterprises and vocational education institutions, providing access to credit, enhancing employment counselling, and capitalising on the potential of traditional craft villages, services and tourism. These measures aim to create stable employment, secure livelihoods and strengthen social security for people in Tam Hung during the 2026–2030 period.
Keywords: Vocational training; employment transition; urbanisation; agricultural land acquisition; Tam Hung commune; social security.
1. Đặt vấn đề
Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang làm thay đổi mạnh mẽ không gian phát triển kinh tế - xã hội tại nhiều địa phương, nhất là các xã, phường ven đô. Cùng với việc sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã theo mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, nhiều địa bàn nông thôn đang chuyển dịch theo hướng đô thị, thương mại - dịch vụ và công nghiệp. Quá trình này kéo theo việc thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng một bộ phận diện tích đất nông nghiệp, tác động trực tiếp đến sinh kế và cơ cấu việc làm của người dân vốn phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp.
Sự thay đổi về tư liệu sản xuất và cơ cấu kinh tế đặt ra yêu cầu chuyển đổi việc làm phù hợp, nhất là đối với lao động trung niên và những người có khả năng thích ứng hạn chế với thị trường lao động phi nông nghiệp. Nếu thiếu định hướng và hỗ trợ kịp thời về đào tạo nghề, tư vấn việc làm và chuyển đổi nghề, một bộ phận lao động có thể gặp khó khăn trong duy trì việc làm ổn định, thu nhập và sinh kế bền vững. Trước yêu cầu đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền được học nghề, chuyển đổi nghề và tiếp cận việc làm của người lao động, trong đó chú trọng các nhóm chịu tác động trực tiếp từ quá trình thu hồi đất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Xã Tam Hưng, thành phố Hà Nội, là địa bàn đang diễn ra quá trình chuyển đổi theo hướng đô thị với sự thay đổi về không gian phát triển, cơ cấu kinh tế và nhu cầu việc làm. Trên cơ sở nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành, số liệu về thị trường lao động và kết quả khảo sát thực tế tại xã Tam Hưng, bài viết phân tích cơ sở pháp lý và thực tiễn của đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm trong bối cảnh đô thị hóa; nhận diện nhu cầu, những vấn đề đặt ra đối với các nhóm lao động tại địa phương; từ đó đề xuất định hướng và giải pháp nhằm hỗ trợ người dân chuyển đổi việc làm theo hướng ổn định, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
![]()
2. Cơ sở pháp lý về đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm bền vững cho người dân trong quá trình đô thị hóa
Hệ thống chính sách, pháp luật của Việt Nam về đào tạo nghề, giải quyết việc làm, hỗ trợ chuyển đổi nghề cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất được xây dựng khá đồng bộ, từ chủ trương của Đảng, luật của Quốc hội đến các nghị định, quyết định, chiến lược của Chính phủ, tạo hành lang pháp lý quan trọng để các địa phương như xã Tam Hưng triển khai thực hiện.
2.1. Chủ trương của Đảng về đào tạo nguồn nhân lực gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động
- Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 17/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII "về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" xác định mục tiêu chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp, dịch vụ, coi phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề là một đột phá chiến lược. Nghị quyết nhấn mạnh quan điểm “gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động”.
- Nghị quyết số 06/NQ-CP ngày 10/01/2023 của Chính phủ "về phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, hiệu quả, bền vững và hội nhập nhằm phục hồi nhanh kinh tế - xã hội" đặt ra các chỉ tiêu cụ thể về tỷ lệ lao động qua đào tạo, tỷ trọng lao động nông nghiệp.
2.2. Luật Việc làm năm 2025 (Luật số 74/2025/QH15)
Luật số 74/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026, quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm, đăng ký lao động, hệ thống thông tin thị trường lao động, phát triển kỹ năng nghề, dịch vụ việc làm và bảo hiểm thất nghiệp. So với Luật Việc làm năm 2013, Luật mới có nhiều điểm phù hợp trực tiếp với yêu cầu chuyển đổi nghề trong đô thị hóa như mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp tới lao động phi chính thức, thời vụ dài hạn; bổ sung Chương về phát triển kỹ năng nghề, lần đầu ghi nhận đánh giá, công nhận kỹ năng nghề không chính quy - có ý nghĩa thiết thực với lao động làng nghề truyền thống như ở ngoại thành Hà Nội; chuyển hướng chính sách bảo hiểm thất nghiệp từ hỗ trợ thụ động sang chủ động, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng để duy trì việc làm, phòng ngừa thất nghiệp.
Nghị định số 338/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về chính sách hỗ trợ tạo việc làm đã cụ thể hóa các nội dung: cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì, mở rộng việc làm (tối đa 200 triệu đồng đối với người lao động, 10 tỷ đồng đối với cơ sở sản xuất kinh doanh); cho vay đi làm việc ở nước ngoài; việc làm công; hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thanh niên.
2.3. Luật Đất đai năm 2024
Đối với các địa phương đang đô thị hóa gắn với thu hồi đất nông nghiệp như xã Tam Hưng, quy định có ý nghĩa trực tiếp nhất là Điều 108 và Điều 109 Luật Đất đai năm 2024. Theo Điều 108, người có đất bị thu hồi được hưởng các khoản hỗ trợ gồm: ổn định đời sống; ổn định sản xuất, kinh doanh; di dời vật nuôi; và đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm. Điều 109 quy định: cá nhân, hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp có đất bị thu hồi được hỗ trợ bằng tiền không quá 05 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất địa phương, không vượt hạn mức giao đất theo Điều 176 của Luật; ngoài ra còn được hỗ trợ bằng hình thức đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm.
3. Chính sách đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm cho lao động nông thôn trong bối cảnh đô thị hóa
Trong bối cảnh đô thị hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh, đào tạo nghề và hỗ trợ chuyển đổi việc làm cho lao động nông thôn ngày càng được chú trọng. Năm 2026, thành phố Hà Nội và Trung ương đã ban hành, triển khai nhiều chính sách, kế hoạch theo hướng nâng cao chất lượng đào tạo nghề, tăng khả năng tiếp cận việc làm và hỗ trợ người lao động chuyển đổi từ khu vực nông nghiệp sang các ngành nghề phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động.
Tại Hà Nội, Kế hoạch số 69/KH-UBND ngày 25/02/2026 của Ủy ban nhân dân thành phố về "đào tạo nghề trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2026" xác định đào tạo cho 17.080 người, gồm 8.890 người thuộc nhóm nghề phi nông nghiệp và 8.190 người thuộc nhóm nghề nông nghiệp. Đối tượng đào tạo được ưu tiên gồm lao động nông thôn, phụ nữ, người khuyết tật và người bị thu hồi đất nông nghiệp, đất kinh doanh. Cách tiếp cận này cho thấy đào tạo nghề được đặt trong mối quan hệ với đặc điểm của từng nhóm lao động và yêu cầu chuyển dịch việc làm trên địa bàn.
Ở cấp quốc gia, ngày 24/02/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 328/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông thôn đến năm 2030”. Chương trình đặt mục tiêu bình quân hằng năm đào tạo, đào tạo lại khoảng 1,5 triệu lao động nông thôn, trong đó đào tạo nghề phi nông nghiệp chiếm khoảng 70%. Định hướng này gắn đào tạo nghề với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo điều kiện để một bộ phận lao động nông thôn chuyển sang các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đô thị hóa.
Từ định hướng chính sách của Trung ương và thành phố Hà Nội, có thể xác định một số yêu cầu trọng tâm đối với đào tạo nghề và chuyển đổi việc làm tại các địa bàn đang đô thị hóa.
Thứ nhất, điều tra, khảo sát nhu cầu đào tạo phải được thực hiện thường xuyên, sát với đặc điểm dân cư, cơ cấu lao động và nhu cầu sử dụng lao động tại địa phương. Đây là cơ sở hạn chế tình trạng đào tạo không gắn với nhu cầu thực tế của người lao động và doanh nghiệp.
Thứ hai, gắn đào tạo nghề với doanh nghiệp và thị trường lao động. Nội dung, ngành nghề và phương thức đào tạo cần xuất phát từ nhu cầu tuyển dụng, đồng thời quan tâm đến khả năng tiếp cận việc làm của người học sau đào tạo. Đối với lao động chuyển từ nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp, yêu cầu này càng có ý nghĩa trong việc bảo đảm tính thực chất và bền vững của quá trình chuyển đổi việc làm.
Thứ ba, tăng khả năng tiếp cận tín dụng và các nguồn lực hỗ trợ tạo việc làm. Đối với những lao động có nhu cầu tự tạo việc làm, phát triển sản xuất, kinh doanh hoặc chuyển sang các mô hình dịch vụ mới, đào tạo nghề cần được kết hợp với hỗ trợ vốn và các chính sách phù hợp để nâng cao khả năng duy trì việc làm.
Thứ tư, đẩy mạnh tuyên truyền, tư vấn hướng nghiệp và thay đổi nhận thức về chuyển đổi nghề. Đây là yêu cầu cần được quan tâm đối với nhóm lao động trung niên, những người đã có thời gian dài gắn bó với sản xuất nông nghiệp và có thể gặp khó khăn khi chuyển sang các công việc đòi hỏi kỹ năng, phương thức làm việc và môi trường lao động mới.
Như vậy, chính sách đào tạo nghề và chuyển đổi việc làm trong bối cảnh đô thị hóa không chỉ đặt ra yêu cầu về số lượng người được đào tạo mà còn đòi hỏi sự phù hợp giữa nhu cầu của người lao động, chương trình đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động. Đây cũng là cơ sở để đánh giá thực trạng và nhu cầu đào tạo, chuyển đổi việc làm tại xã Tam Hưng trong giai đoạn hiện nay.
4. Thực tiễn tại xã Tam Hưng
4.1. Bối cảnh đô thị hóa và tiềm năng, lợi thế của địa phương
Xã Tam Hưng được thành lập trên cơ sở sáp nhập các xã Mỹ Hưng, Tam Hưng, Thanh Thùy và Thanh Văn, có diện tích tự nhiên 29,45 km², dân số 39.331 người theo cơ sở dữ liệu dân cư đến ngày 05/5/2026. Toàn xã có 10.454 hộ gia đình, 22.187 người trong độ tuổi lao động, chiếm 56,4% dân số, gồm 11.748 nam và 10.439 nữ; số người ngoài độ tuổi lao động là 17.144. Đây là lực lượng lao động tương đối lớn trong bối cảnh không gian phát triển và cơ cấu kinh tế - xã hội của địa phương đang có những thay đổi rõ nét.
Quá trình đô thị hóa tại xã Tam Hưng gắn với việc thu hồi, chuyển đổi một bộ phận diện tích đất nông nghiệp để triển khai các dự án như Khu đô thị thể thao Quốc tế Hà Nội, Khu đô thị Mỹ Hưng và Khu đa mục tiêu. Sự thay đổi về không gian sử dụng đất kéo theo yêu cầu chuyển dịch cơ cấu việc làm, nhất là đối với lao động trước đây chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Cùng với đó, xu hướng phát triển thương mại - dịch vụ, logistics và kinh tế số đặt ra yêu cầu điều chỉnh định hướng đào tạo nghề theo nhu cầu việc làm mới của địa phương.
Bên cạnh những tác động đến sinh kế, Tam Hưng có những điều kiện thuận lợi để phát triển việc làm tại chỗ và đa dạng hóa cơ cấu lao động. Trên địa bàn có 11 làng nghề truyền thống hoạt động trong các lĩnh vực cơ khí, kim khí, thủ công mỹ nghệ, khâu bóng và hơn 450 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh đang hoạt động. Hệ thống làng nghề và cơ sở sản xuất, kinh doanh này tạo điều kiện để địa phương duy trì và mở rộng các việc làm phù hợp với lao động có kinh nghiệm nghề, đồng thời là cơ sở để nghiên cứu các chương trình đào tạo, đào tạo lại gắn với nhu cầu sử dụng lao động tại chỗ.
Xã Tam Hưng còn có Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Chùa Bối Khê, tạo điều kiện phát triển các hoạt động thương mại, dịch vụ và các loại hình việc làm gắn với du lịch, văn hóa, lễ hội. Việc khai thác đồng thời lợi thế về làng nghề, sản xuất - kinh doanh và dịch vụ du lịch cho phép địa phương mở rộng các lựa chọn việc làm ngoài nông nghiệp, qua đó gắn đào tạo nghề và chuyển đổi việc làm với đặc điểm kinh tế - xã hội và định hướng phát triển của địa phương.
Trong bối cảnh đó, vấn đề đặt ra đối với Tam Hưng không chỉ là hỗ trợ người dân chuyển từ việc làm nông nghiệp sang việc làm phi nông nghiệp, mà còn phải xác định được những ngành nghề có khả năng tạo việc làm ổn định, phù hợp với từng nhóm lao động và có khả năng phát triển tại địa phương. Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá nhu cầu đào tạo và chuyển đổi việc làm của người dân Tam Hưng trong giai đoạn hiện nay.
4.2. Khảo sát cơ cấu, trình độ lao động
Kết quả khảo sát cho thấy cơ cấu lao động trên địa bàn xã Tam Hưng chia thành hai nhóm chính với đặc điểm khác biệt rõ rệt. Nhóm lao động trẻ (từ đủ 15 đến 35 tuổi) có 10.462 người, chiếm 47,2% số người trong độ tuổi lao động. Đây là lực lượng lao động nòng cốt, có lợi thế về sức khỏe, tư duy đổi mới, khả năng thích nghi nhanh và tiếp cận tốt với công nghệ, kinh tế số; nhiều lao động trẻ đã tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc có trình độ đại học, cao đẳng - nền tảng thuận lợi để tham gia các khóa đào tạo nghề chất lượng cao. Tuy nhiên, một bộ phận lao động trẻ chưa có việc làm ổn định hoặc đang làm công việc tự do, một số lao động dưới 20 tuổi chưa tốt nghiệp trung học phổ thông, dẫn đến thiếu hụt kỹ năng nghề chuyên sâu.
Nhóm lao động trung niên có 11.725 người, chiếm 52,8% số người trong độ tuổi lao động - là lực lượng lao động chính hiện nay, đóng vai trò quan trọng trong ổn định kinh tế hộ gia đình, đồng thời là nhóm chịu tác động trực tiếp và lớn nhất từ quá trình thu hồi đất nông nghiệp. Nhóm này có kinh nghiệm thực tế nhưng chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp truyền thống; trình độ học vấn phổ biến ở mức trung học cơ sở đến trung học phổ thông, chưa qua đào tạo nghề, tỷ lệ có trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp còn thấp. Khả năng chuyển đổi nghề nghiệp của nhóm này gặp nhiều khó khăn do thói quen sản xuất nông nghiệp cũ, tâm lý e ngại học nghề mới và hạn chế trong tiếp cận ngành nghề kỹ thuật cao hoặc kinh tế số.
4.3. Nhu cầu chuyển đổi nghề nghiệp
Qua khảo sát trực tiếp tại 22 thôn từ ngày 07/5 đến 13/5/2026, có 859/22.187 người trong độ tuổi lao động (tương đương 3,87%) đăng ký có nhu cầu đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, tập trung nhiều nhất ở thôn Bạch Nao và thôn Hưng Giáo.
Xét về cơ cấu ngành nghề đăng ký, nhóm nghề logistics, thương mại điện tử, kinh tế số, kỹ thuật và công nghiệp - bao gồm công nghệ thông tin, bán hàng online, điện dân dụng và công nghiệp, sửa chữa máy lạnh - điều hòa, sửa chữa điện thoại và điện tử, lắp ráp máy tính, lái xe nâng và ô tô, hàn, cơ khí, may công nghiệp, mộc mỹ nghệ... - chiếm tỷ lệ cao nhất với 441 người, tương đương 51,3%. Đứng thứ hai là nhóm nghề dịch vụ đô thị, gồm quản lý nhà hàng, dịch vụ ăn uống, kỹ thuật chế biến món ăn, trồng và chăm sóc cây cảnh, cắm hoa nghệ thuật..., với 231 người đăng ký, chiếm 26,9%. Nhóm nghề chăm sóc và dịch vụ xã hội - pha chế đồ uống, chăm sóc da, tạo mẫu tóc, làm nail, trang điểm thẩm mỹ, chăn nuôi thú y - gia cầm, trồng rau hữu cơ, rau an toàn có 187 người đăng ký, chiếm 21,8%. Ngoài ra, khảo sát còn ghi nhận 12 lao động có nhu cầu xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản và 23 lao động có nhu cầu vay vốn giải quyết việc làm qua Ngân hàng Chính sách xã hội.
Kết quả khảo sát phản ánh rõ xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang các ngành dịch vụ, logistics, thương mại điện tử, kinh tế số và kỹ thuật - công nghiệp, phù hợp với định hướng phát triển đô thị của xã. Nhóm người đăng ký đại diện cho bộ phận lao động có tư duy chủ động, sớm nhận thức được xu thế phát triển của địa phương, những hạn chế của mô hình kinh tế cũ và mong muốn tìm kiếm việc làm ổn định thông qua con đường đào tạo, chuyển đổi nghề.
4.4. Định hướng và giải pháp đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm giai đoạn 2026 - 2030 ở xã Tam Hưng
Giai đoạn 2026 - 2030, xã Tam Hưng xác định đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm là nhiệm vụ gắn với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh và ổn định đời sống người dân trong quá trình đô thị hóa. Với 22.187 người trong độ tuổi lao động, chiếm 56,4% dân số, yêu cầu đặt ra là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từng bước chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, thương mại, dịch vụ, logistics và kinh tế số.
- Xây dựng kế hoạch đào tạo gắn với nhu cầu thực tế. Tam Hưng dự kiến xây dựng Đề án, kế hoạch đào tạo nghề, chuyển đổi nghề giai đoạn 2026 - 2030 trên cơ sở nhu cầu của người lao động, nhu cầu sử dụng lao động và định hướng phát triển của địa phương. Trọng tâm là đào tạo ngắn hạn, đào tạo tại chỗ, đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, gắn đào tạo với tuyển dụng. Trong đợt khảo sát, số lượng người đăng ký nhu cầu đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm được xác định là nhóm có thể triển khai các mô hình điểm về đào tạo và giải quyết việc làm.
- Phân loại đối tượng để định hướng nghề nghiệp. Trong số 22.187 người trong độ tuổi lao động, có 10.462 người từ 15 đến 35 tuổi, chiếm 47,2%. Đây là nhóm được ưu tiên định hướng các nghề phù hợp với xu hướng phát triển đô thị và chuyển đổi số như công nghệ thông tin, kinh tế số, thương mại - dịch vụ, logistics, truyền thông số, điện công nghiệp, sửa chữa điện tử, kỹ thuật ô tô, cơ khí, vận hành máy móc, thiết kế đồ họa, marketing và bán hàng trực tuyến. Công tác tư vấn nghề nghiệp được đẩy mạnh đối với thanh niên, nhất là từ cấp trung học phổ thông; khuyến khích thanh niên khởi nghiệp, kinh doanh thương mại điện tử và phát triển các mô hình kinh tế mới.
Đối với lao động trung niên, định hướng đào tạo tập trung vào các nghề sơ cấp, ngắn hạn, thiên về thực hành, phù hợp với trình độ và độ tuổi. Một số nghề được định hướng gồm điện dân dụng, hàn điện, cơ khí dân dụng, lái xe, trồng và chăm sóc hoa, cây cảnh, chăm sóc cây xanh đô thị, chế biến món ăn, dịch vụ ăn uống, vệ sinh công nghiệp. Cùng với đào tạo nghề, xã khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình và các dịch vụ quy mô nhỏ như kinh doanh ăn uống, bán hàng tiêu dùng, may mặc, chế biến thực phẩm, bán hàng trực tuyến, chăm sóc sức khỏe, làm đẹp, trồng rau hữu cơ, rau an toàn và chăn nuôi. Định hướng này phù hợp với nhóm lao động có kinh nghiệm nhưng còn hạn chế về trình độ chuyên môn và khả năng tiếp cận công nghệ.
- Tăng cường tuyên truyền, tư vấn chuyển đổi nghề. Kết quả khảo sát cho thấy số người đăng ký nhu cầu đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm còn thấp so với tổng số lao động. Tâm lý e ngại học nghề mới, nhất là ở lao động trung niên và các hộ bị thu hồi đất, là một trong những rào cản cần được giải quyết. Xã tiếp tục tuyên truyền thông qua hệ thống truyền thanh, các cuộc họp tại thôn, Trang thông tin điện tử, nhóm Zalo cộng đồng và Fanpage địa phương. Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh và các thôn là lực lượng trực tiếp vận động người dân học nghề, vay vốn và tìm kiếm việc làm.
Gắn đào tạo với doanh nghiệp, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và tín dụng. Ủy ban nhân dân xã phối hợp với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và Trung tâm Dịch vụ việc làm cập nhật nhu cầu tuyển dụng, làm cơ sở xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được liên kết để tổ chức đào tạo tại địa phương hoặc đưa người lao động đến cơ sở đào tạo phù hợp. Nội dung đào tạo ưu tiên thực hành, ngắn hạn, dễ tiếp cận và hướng đến những nghề có nhu cầu tuyển dụng.
- Nguồn vốn tín dụng chính sách. Xã phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội tạo điều kiện để người dân vay vốn học nghề, giải quyết việc làm, phát triển sản xuất, kinh doanh. Trong đợt khảo sát, 23 người đăng ký nhu cầu vay vốn giải quyết việc làm. Đối với 12 lao động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài, xã định hướng hỗ trợ tiếp cận các chương trình hợp tác chính thức tại Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản.
- Khai thác lợi thế địa phương để tạo việc làm tại chỗ. Tam Hưng có 11 làng nghề truyền thống và hơn 450 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh. Đây là nguồn lực quan trọng để phát triển việc làm phi nông nghiệp, tạo điều kiện chuyển đổi nghề ngay tại địa phương. Đối với các làng nghề, xã định hướng đào tạo những nghề phù hợp với nhu cầu sản xuất như hàn điện, cơ khí dân dụng, gia công kim khí, vận hành máy móc, khâu bóng, nghề thủ công, may công nghiệp, hoàn thiện sản phẩm, thiết kế và chế tác thủ công mỹ nghệ. Kỹ năng bán hàng, kinh doanh trực tuyến và quảng bá sản phẩm trên nền tảng số cũng được chú trọng.
Với hơn 450 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, xã tăng cường kết nối cung - cầu lao động, tư vấn và giới thiệu việc làm tại địa phương; khuyến khích doanh nghiệp tuyển dụng lao động địa phương, nhất là lao động chuyển đổi nghề, lao động trung niên và người bị ảnh hưởng bởi thu hồi đất.
Bên cạnh công nghiệp, làng nghề và dịch vụ dân sinh, xã Tam Hưng định hướng khai thác giá trị văn hóa, du lịch gắn với Di tích lịch sử quốc gia Chùa Bối Khê. Các hoạt động dịch vụ ăn uống, kinh doanh sản phẩm lưu niệm, sản phẩm làng nghề, chăm sóc cảnh quan, vệ sinh môi trường, trông giữ xe, phục vụ du lịch, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm địa phương có thể tạo thêm việc làm cho người dân.
Giai đoạn 2026 - 2030, xã Tam Hưng tập trung vào ba yêu cầu: đào tạo theo nhu cầu thị trường; phân nhóm lao động để lựa chọn nghề phù hợp; gắn đào tạo với việc làm, tín dụng và các nguồn lực kinh tế tại địa phương. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với sự phân hóa về độ tuổi, trình độ, nhu cầu nghề nghiệp và khả năng thích ứng của người lao động qua khảo sát. Mục tiêu là tạo chuyển biến thực chất từ đào tạo nghề sang chuyển đổi việc làm, từng bước hình thành sinh kế ổn định trong quá trình đô thị hóa.
5. Đề xuất, kiến nghị
Kết quả khảo sát tại xã Tam Hưng cho thấy, nhu cầu chuyển đổi việc làm xuất hiện cùng với quá trình đô thị hóa, song khả năng tham gia đào tạo và chuyển đổi nghề của người lao động còn phụ thuộc lớn vào độ tuổi, trình độ, kinh nghiệm, khả năng tiếp cận công nghệ và điều kiện kinh tế của từng hộ. Vì vậy, chính sách đào tạo nghề cần chuyển từ cách tiếp cận hỗ trợ chung sang cá thể hóa theo nhóm lao động, gắn đào tạo với đầu ra việc làm và khả năng tạo sinh kế lâu dài.
Một là, đối với cơ quan quản lý cấp thành phố, cần tăng cường phân cấp và trao quyền chủ động cho cơ sở trong xác định nhu cầu đào tạo, lựa chọn ngành nghề và tổ chức thực hiện. Việc phân bổ chỉ tiêu, kinh phí đào tạo nên dựa trên nhu cầu thực tế của từng địa bàn, từng nhóm lao động và khả năng giải quyết việc làm sau đào tạo, hạn chế tình trạng đào tạo theo chỉ tiêu có sẵn.
Hai là, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa chính quyền cơ sở, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp và các đơn vị dịch vụ việc làm. Cần xác lập rõ vai trò của từng chủ thể trong toàn bộ quá trình từ khảo sát nhu cầu, tư vấn, đào tạo đến kết nối việc làm. Doanh nghiệp cần được tham gia ngay từ khâu xác định nội dung và hình thức đào tạo để nâng cao khả năng sử dụng lao động sau đào tạo.
Ba là, xây dựng cơ chế theo dõi kết quả sau đào tạo. Hiệu quả của chính sách không chỉ được đánh giá bằng số người tham gia hoặc hoàn thành khóa học mà cần quan tâm đến khả năng tìm được việc làm, duy trì việc làm, chuyển đổi nghề và cải thiện thu nhập. Đây cũng là cơ sở để điều chỉnh ngành nghề và phương thức đào tạo phù hợp với biến động của thị trường lao động.
Bốn là, nâng cao vai trò của công tác tư vấn, định hướng nghề nghiệp tại cơ sở. Thông tin về ngành nghề, yêu cầu tuyển dụng, cơ hội việc làm và các chính sách hỗ trợ cần được cung cấp thường xuyên, dễ tiếp cận, giúp người dân chủ động lựa chọn hướng đi phù hợp thay vì chỉ tham gia đào tạo khi có chương trình được triển khai.
Năm là, nghiên cứu cơ chế hỗ trợ linh hoạt đối với các mô hình tạo việc làm tại chỗ. Bên cạnh đào tạo để tham gia thị trường lao động, chính sách cần quan tâm đến khả năng phát triển kinh tế hộ, sản xuất - kinh doanh nhỏ và các hoạt động dịch vụ phù hợp với điều kiện từng địa bàn. Điều này góp phần đa dạng hóa sinh kế và giảm áp lực tìm việc làm ngoài địa phương.
Sáu là, xã Tam Hưng cần tiếp tục coi khảo sát nhu cầu lao động là cơ sở thường xuyên cho việc xây dựng kế hoạch đào tạo, chuyển đổi việc làm; đồng thời cập nhật những thay đổi của thị trường lao động trong quá trình đô thị hóa để kịp thời điều chỉnh định hướng. Kết quả thực hiện cần được tổng hợp, đánh giá định kỳ, qua đó hình thành cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện mô hình đào tạo và chuyển đổi việc làm phù hợp với các địa bàn có điều kiện tương đồng.
6. Kết luận
Đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm bền vững là yêu cầu đặt ra trong quá trình đô thị hóa, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ổn định sinh kế và bảo đảm đời sống người dân. Thực tiễn tại xã Tam Hưng cho thấy, điều tra, khảo sát nhu cầu lao động là cơ sở quan trọng để nhận diện đặc điểm, trình độ, nhu cầu việc làm của từng nhóm lao động, từ đó xây dựng định hướng đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Giai đoạn 2026 - 2030, hiệu quả của công tác đào tạo nghề cần được đo bằng khả năng chuyển hóa nhu cầu đào tạo thành việc làm và sinh kế ổn định. Việc phân loại lao động, lựa chọn ngành nghề phù hợp, gắn đào tạo với doanh nghiệp, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, tín dụng chính sách và các lợi thế về làng nghề, dịch vụ, du lịch của địa phương sẽ tạo thêm cơ hội việc làm ngay tại chỗ, đồng thời mở rộng khả năng thích ứng của người lao động trước những thay đổi của quá trình đô thị hóa.
Kinh nghiệm từ Tam Hưng cho thấy, chuyển đổi việc làm chỉ đạt hiệu quả khi được đặt trong mối liên kết giữa nhu cầu của người dân, thị trường lao động và định hướng phát triển của địa phương. Đây cũng là cơ sở để tham khảo, vận dụng tại những địa bàn có quá trình đô thị hóa và chuyển dịch cơ cấu lao động tương đồng./.
--------------------------------
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2022), Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Quốc hội (2024), Luật Đất đai số 31/2024/QH15.
3. Quốc hội (2025), Luật Việc làm số 74/2025/QH15.
4. Chính phủ (2023), Nghị quyết số 06/NQ-CP ngày 10/01/2023 về phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, hiệu quả, bền vững và hội nhập nhằm phục hồi nhanh kinh tế - xã hội.
5. Chính phủ (2025), Nghị định số 338/2025/NĐ-CP ngày 25/12/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về chính sách hỗ trợ tạo việc làm.
6. Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 328/QĐ-TTg ngày 24/02/2026 phê duyệt Chương trình “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông thôn đến năm 2030”.
7. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2026), Kế hoạch số 69/KH-UBND ngày 25/02/2026 về đào tạo nghề trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng trên địa bàn thành phố năm 2026.
8. Ủy ban nhân dân xã Tam Hưng
(2026), Báo cáo kết quả thực hiện điều tra, khảo sát nhu cầu đào tạo,
chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm của người dân trên địa bàn xã Tam Hưng.
ThS Nguyễn Lại Thìn, Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả