Phát huy giá trị văn hóa truyền thống gắn với du lịch cộng đồng tạo động
lực phát triển kinh tế - xã hội bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Những kết quả tạo nền tảng cho giai đoạn mới
Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là nơi hội tụ một kho tàng văn hóa đa dạng, đặc sắc với hàng nghìn giá trị được hình thành, trao truyền qua nhiều thế hệ. Đó là hệ thống lễ hội, dân ca, dân vũ, nhạc cụ, trang phục, nghề thủ công truyền thống, kiến trúc nhà ở, ẩm thực, tri thức dân gian và những không gian văn hóa làng, bản gắn với đời sống cộng đồng.
Trong điều kiện địa hình chia cắt, cơ sở hạ tầng và điều kiện phát triển công nghiệp ở nhiều nơi còn hạn chế, những giá trị về văn hóa, cảnh quan và đời sống cộng đồng lại trở thành lợi thế riêng có để phát triển các loại hình du lịch phù hợp, trong đó có du lịch cộng đồng.
Giai đoạn 2021 - 2025, thông qua Dự án 6 “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhiều hoạt động bảo tồn và phát huy văn hóa đã được triển khai trên diện rộng.
Tại các địa phương, đã hỗ trợ đầu tư, bảo tồn 48 làng, bản và 69 điểm đến du lịch tiêu biểu truyền thống của các dân tộc thiểu số; hỗ trợ xây dựng mới, cải tạo 3.220 nhà văn hóa - khu thể thao tại các thôn, bản; bảo tồn, phục dựng và phát huy 124 lễ hội truyền thống tiêu biểu. Đồng thời, chương trình hỗ trợ hoạt động cho 695 câu lạc bộ sinh hoạt văn hóa dân gian và 5.760 đội văn nghệ truyền thống tại các thôn, bản.
Đây không chỉ là những con số về đầu tư văn hóa. Đằng sau mỗi làng, bản được bảo tồn, mỗi lễ hội được phục dựng hay mỗi đội văn nghệ được duy trì là một không gian để cộng đồng tiếp tục thực hành, trao truyền và phát huy những giá trị văn hóa vốn có.
Đặc biệt, 347 lớp tập huấn với trên 16.350 lượt người tham gia đã được tổ chức. Nội dung tập huấn không chỉ tập trung vào truyền dạy văn hóa phi vật thể mà còn bồi dưỡng các kỹ năng phục vụ phát triển du lịch như giao tiếp, ứng xử, đón tiếp khách, chế biến món ăn và phục vụ lưu trú.
Điều đó cho thấy tư duy triển khai đã có sự chuyển biến rõ nét: từ “giữ gìn cái có sẵn” sang nâng cao năng lực để cộng đồng tự tổ chức, tự khai thác và tự hưởng lợi từ di sản.
Một hướng đi khác cũng được quan tâm là bảo tồn những giá trị văn hóa của các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, dân tộc có khó khăn đặc thù. Qua các chương trình hỗ trợ, đã phục dựng, bảo tồn 40 lễ hội truyền thống tiêu biểu; khôi phục 162 nhạc cụ, trang phục, nghề truyền thống; thành lập và duy trì 280 đội văn nghệ thôn, bản; cấp trang thiết bị cho 195 nhà sinh hoạt cộng đồng.
Đặc biệt, nhiệm vụ khôi phục, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa truyền thống được hướng tới 14 dân tộc có khó khăn đặc thù, qua đó góp phần bảo tồn toàn diện các giá trị văn hóa phi vật thể, đồng thời khuyến khích đồng bào phát huy vai trò chủ thể văn hóa và chủ động tham gia phát triển kinh tế - xã hội.
Khi bản làng trở thành điểm đến, văn hóa trở thành sinh kế
Thực tế triển khai Dự án 6 cho thấy mối quan hệ giữa bảo tồn văn hóa và phát triển du lịch ngày càng rõ hơn. Việc hỗ trợ đầu tư 69 điểm đến du lịch tiêu biểu đã góp phần tạo cơ hội chuyển đổi sinh kế và tăng thu nhập cho người dân tham gia vào các chuỗi du lịch.
Ở nhiều địa phương, người dân từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị du lịch. Từ cung cấp chỗ ở, chế biến và phục vụ ẩm thực, biểu diễn văn nghệ, hướng dẫn trải nghiệm, bán sản phẩm thủ công đến cung cấp sản vật địa phương, nhiều công việc có thể được thực hiện ngay tại bản làng.
Mô hình này tạo ra một giá trị đặc biệt: đồng bào có thể tạo việc làm và thu nhập ngay trên quê hương mà không nhất thiết phải rời bản làng để tìm kiếm sinh kế.
Đối với phụ nữ dân tộc thiểu số, tác động này càng có ý nghĩa. Trong nhiều cộng đồng, phụ nữ là những người trực tiếp lưu giữ kỹ thuật dệt, thêu, chế biến món ăn, trang phục, dân ca, nghề thủ công và tri thức về đời sống gia đình. Khi các giá trị ấy trở thành sản phẩm du lịch, phụ nữ có thêm cơ hội tham gia thị trường, tạo thu nhập và nâng cao vị thế trong gia đình, cộng đồng.
Ở góc độ rộng hơn, du lịch cộng đồng còn tạo sự kết nối giữa văn hóa với nông nghiệp, lâm nghiệp, sản phẩm OCOP, làng nghề, thương mại và dịch vụ. Một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh không chỉ bán một đêm lưu trú mà có thể kết nối với trải nghiệm sản xuất, ẩm thực, mua sắm, tham quan cảnh quan và tìm hiểu văn hóa.
Như vậy, một giá trị văn hóa có thể tạo ra nhiều tầng giá trị kinh tế, miễn là được tổ chức hợp lý và đặt cộng đồng vào vị trí trung tâm.
Không để du lịch làm biến dạng văn hóa
Tuy nhiên, phát triển du lịch dựa vào văn hóa cũng đặt ra những yêu cầu không nhỏ. Ở nhiều địa bàn, hạ tầng giao thông và cơ sở vật chất du lịch còn hạn chế; nguồn nhân lực du lịch tại chỗ chưa đáp ứng yêu cầu; sản phẩm du lịch chưa thật sự đa dạng; hoạt động quảng bá, kết nối tour, tuyến còn thiếu chuyên nghiệp. Trong khi đó, nguy cơ thương mại hóa quá mức, sân khấu hóa hoặc biến đổi những giá trị nguyên bản để chạy theo thị hiếu du khách luôn hiện hữu.
Bởi vậy, phát triển du lịch cộng đồng không thể chỉ đặt mục tiêu tăng số lượng khách hay doanh thu. Điều quan trọng hơn là bảo đảm sức sống của văn hóa và lợi ích lâu dài của cộng đồng.
Một lễ hội truyền thống chỉ thực sự có giá trị khi cộng đồng vẫn coi đó là sinh hoạt văn hóa của chính mình, chứ không chỉ tổ chức để phục vụ du khách. Một nghề truyền thống chỉ có thể tồn tại lâu dài khi người trẻ tiếp tục học nghề, có thu nhập từ nghề và nhìn thấy tương lai của nghề. Một ngôi nhà truyền thống chỉ trở thành sản phẩm du lịch bền vững khi việc khai thác không làm mất đi không gian sống và tập quán của gia đình, cộng đồng.
Do đó, cần tránh tư duy “biến mọi thứ thành sản phẩm du lịch”. Không phải giá trị văn hóa nào cũng cần thương mại hóa. Những giá trị thiêng liêng, không gian tín ngưỡng hoặc tập quán đặc thù cần được tôn trọng theo nguyên tắc bảo tồn và sự đồng thuận của cộng đồng.
Giai đoạn 2026 - 2030: Đưa văn hóa và du lịch vào chuỗi sinh kế
Bước sang giai đoạn 2026 - 2030, yêu cầu đặt ra là tiếp tục nâng tầm những kết quả đã đạt được, chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang xây dựng hệ sinh thái phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa.
Chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 46/2026/QH16 tiếp tục xác định phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thu hẹp chênh lệch phát triển, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các cộng đồng dân tộc thiểu số là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Nghị quyết đồng thời nhấn mạnh yêu cầu bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa và đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực văn hóa.
Định hướng giai đoạn mới cũng đặt phát triển du lịch, dịch vụ trong mối quan hệ với chuyển dịch cơ cấu lao động. Theo các mục tiêu của giai đoạn 2026 - 2030, hằng năm phấn đấu thu hút 3% lao động nông thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chuyển sang các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ; đến năm 2030 có 40% trở lên lao động người dân tộc thiểu số biết làm các ngành, nghề này.
Đây là sự chuyển hướng quan trọng: du lịch không chỉ được nhìn nhận như một hoạt động văn hóa hoặc dịch vụ, mà trở thành một bộ phận của chiến lược tạo việc làm, tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Trong thiết kế giai đoạn mới, nguồn lực dành cho các nội dung liên quan được kỳ vọng tạo thêm dư địa để phát triển sản xuất, tạo sinh kế và nâng cao thu nhập. Điều quan trọng là nguồn lực phải được phân bổ theo hướng tập trung, tránh đầu tư dàn trải; ưu tiên những địa bàn có tiềm năng, có cộng đồng chủ động tham gia và có khả năng hình thành chuỗi sản phẩm, thị trường ổn định.
Để du lịch cộng đồng phát triển bền vững, trước hết cần tiếp tục nâng cao năng lực của người dân. Người dân cần được trang bị kiến thức về đón tiếp, phục vụ khách, vệ sinh an toàn thực phẩm, quản lý homestay, kỹ năng kể chuyện văn hóa, ngoại ngữ cơ bản, kỹ năng số và quản trị kinh doanh.
Cùng với đó, cần hình thành các sản phẩm du lịch đặc trưng theo từng vùng, từng dân tộc; tránh tình trạng địa phương nào cũng xây dựng sản phẩm giống nhau. Bản sắc phải trở thành lợi thế cạnh tranh của mỗi điểm đến.
Một chuỗi du lịch cộng đồng hiệu quả có thể bắt đầu từ một bản làng nhưng không nên dừng lại ở một hộ gia đình. Cần kết nối homestay với làng nghề, điểm tham quan với sản phẩm OCOP, lễ hội với ẩm thực, trải nghiệm văn hóa với nông nghiệp và cảnh quan tự nhiên. Khi các mắt xích được liên kết, giá trị kinh tế tạo ra sẽ được phân bổ rộng hơn trong cộng đồng.
Chuyển đổi số cũng cần được xem là một công cụ quan trọng. Những bản làng ở vùng cao không còn bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý nếu biết khai thác nền tảng số để giới thiệu sản phẩm, xây dựng bản đồ điểm đến, quảng bá hình ảnh, đặt phòng, bán sản phẩm thủ công và kết nối với các doanh nghiệp lữ hành.
Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng. Doanh nghiệp cần có môi trường thuận lợi để đầu tư; chính quyền đóng vai trò kiến tạo, hỗ trợ hạ tầng, đào tạo và kết nối; còn người dân phải được bảo đảm quyền tham gia, quyền hưởng lợi và quyền quyết định đối với những giá trị văn hóa thuộc về cộng đồng.
Đặc biệt, cần tiếp tục quan tâm đến nghệ nhân - những “kho lưu trữ sống” của di sản. Chính sách hỗ trợ nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú người dân tộc thiểu số truyền dạy văn hóa, bảo vệ tiếng nói, chữ viết, nghề truyền thống và đào tạo thế hệ kế cận sẽ quyết định khả năng duy trì sức sống của di sản./.
Quang Anh
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả