Kiến trúc của mô hình chính quyền số được thiết kế theo hướng sử dụng nền tảng số và các thành phần dùng chung, thúc đẩy khả năng mở rộng, tích hợp và sử dụng lại để nâng cao hiệu quả đầu tư và hạn chế trùng lặp. Bảo đảm khai thác hiệu quả hạ tầng điện toán đám mây và các công nghệ cho phép mở rộng linh hoạt theo nhu cầu, bảo đảm hiệu quả vận hành, an toàn và tối ưu chi phí. Hỗ trợ kết nối và tích hợp ngay từ giai đoạn thiết kế, dựa trên chuẩn mở, kiến trúc mở và giao diện lập trình ứng dụng theo chuẩn để thuận lợi cho chia sẻ dữ liệu và liên thông giữa các hệ thống. Bảo đảm an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu ngay từ giai đoạn thiết kế và phát triển; khuyến khích áp dụng các biện pháp bảo vệ tiên tiến phù hợp với rủi ro. Lấy dữ liệu làm trung tâm; bảo đảm dữ liệu được thu thập, quản lý, chia sẻ và khai báo một lần là yêu cầu mặc định; sử dụng hiệu quả để nâng cao chất lượng ra quyết định, chất lượng dịch vụ.
Mô hình chính quyền số lấy người sử dụng làm trung tâm, bảo đảm thuận tiện, dễ tiếp cận, dễ sử dụng và phù hợp với nhiều nhóm đối tượng, đặc biệt là người yếu thế, các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương. Bảo đảm linh hoạt, dễ nâng cấp và thích ứng với sự phát triển nhanh của công nghệ, khuyến khích áp dụng mô hình kiến trúc mô-đun, thành phần độc lập và công nghệ mới phù hợp. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm tuân thủ các nguyên tắc thiết kế và kiến trúc hệ thống số. Nhà nước khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước áp dụng các nguyên tắc quy định tại Điều này trong hoạt động của mình.
Mô hình chuyển đổi số cấp xã đang được xây dựng và vận hành trên cơ sở Khung kiến trúc số tham chiếu cấp xã, phân cấp triển khai theo 03 cấp gắn với trách nhiệm cụ thể. Theo đó, cấp Trung ương có trách nhiệm cung cấp các nền tảng, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số dùng chung cấp quốc gia; ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật. Cấp tỉnh có trách nhiệm cung cấp hạ tầng và nền tảng dùng chung cấp tỉnh; tích hợp, kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cấp xã với các nền tảng/cơ sở dữ liệu quốc gia; tổ chức vận hành tập trung, giám sát và hỗ trợ người dùng cho cấp xã. Cấp xã có trách nhiệm triển khai các cấu phần của Mô hình tại cơ sở; khai thác, sử dụng và vận hành tại chỗ theo phân cấp đối với các hệ thống, nền tảng do cấp Trung ương và cấp tỉnh cung cấp; cập nhật dữ liệu địa phương; tổ chức cung cấp dịch vụ số và tương tác với người dân, doanh nghiệp; bảo đảm bao trùm số.
2. Vai trò, đặc trưng, điều kiện công nghệ điều hành chính quyền số cấp xã
Vai trò của chính quyền số tại xã, phường, đặc khu. Đối với quản lý nhà nước sẽ góp phần nâng cao hiệu quả điều hành của chính quyền cơ sở; Rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ; Tăng khả năng giám sát, theo dõi tiến độ công việc; Hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu thực tế; đối với người dân và doanh nghiệp: Tiếp cận dịch vụ công mọi lúc, mọi nơi; Giảm chi phí, thời gian đi lại; Minh bạch hóa quy trình giải quyết thủ tục hành chính; Tăng mức độ hài lòng của người dân; đối với phát triển địa phương: Thúc đẩy kinh tế số, xã hội số; Hình thành đô thị thông minh, cộng đồng số; Tăng cường năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư.
Đặc trưng của chính quyền số cấp xã: Quản trị dựa trên dữ liệu số; Điều hành thông minh, kết nối liên thông; Dịch vụ công trực tuyến toàn trình; Tăng tính công khai, minh bạch; Người dân tham gia tương tác trực tuyến với chính quyền. Quy trình xử lý công việc tự động hóa, giảm giấy tờ. Chính quyền số cấp xã có trách nhiệm thực hiện cung cấp dịch vụ công, công tác quản trị nội bộ, chỉ đạo, điều hành, giám sát, kiểm tra thực hiện toàn trình trên môi trường số, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; có phương án xử lý trong tình huống khẩn cấp hoặc xảy ra sự cố làm gián đoạn hoạt động trên môi trường số và phương án ứng phó, khắc phục sự cố, duy trì hoạt động bình thường. Hoạt động chỉ đạo, điều hành, ra quyết định được thực hiện dựa trên dữ liệu số đầy đủ, chính xác, kịp thời. Quy trình nghiệp vụ phải được rà soát, chuẩn hóa, tái cấu trúc và đơn giản hóa trước khi thực hiện số hóa; bảo đảm tinh gọn, không trùng lặp, tăng cường tự động hóa và không yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp lại thông tin, dữ liệu số hợp lệ đã được cung cấp.
Điều kiện công nghệ điều hành chính quyền số cấp xã bao gồm: Hạ tầng số (quan trọng nhất là internet băng thông rộng); Hệ thống mạng nội bộ và trung tâm dữ liệu; Trang thiết bị công nghệ thông tin cho cán bộ; Hệ thống bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Dữ liệu số (số hóa hồ sơ, tài liệu); Xây dựng cơ sở dữ liệu dân cư, đất đai, hộ tịch, an sinh xã hội; Kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan. Nền tảng số, bao gồm: Hệ thống quản lý văn bản và điều hành; Hệ thống một cửa điện tử; Cổng dịch vụ công trực tuyến; Ứng dụng phản ánh hiện trường; Hệ thống họp trực tuyến. Nhân lực số: Nâng cao kỹ năng số cho cán bộ, công chức; Hình thành đội ngũ công chức số; Phát triển văn hóa số trong cơ quan hành chính. Thể chế số: Hoàn thiện quy chế quản lý dữ liệu; Quy định về chia sẻ, khai thác dữ liệu; Quy trình xử lý hồ sơ điện tử.
3.1. Hạ tầng số ở một số địa phương còn hạn chế: Hạ tầng công nghệ thông tin là nền tảng tiên quyết để vận hành chính quyền số, tuy nhiên tại nhiều xã, phường, đặc biệt là các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, hạ tầng này vẫn còn thiếu đồng bộ. Đường truyền internet chưa ổn định, tốc độ thấp, chưa được phủ sóng rộng khắp; hệ thống máy tính, thiết bị đầu cuối tại bộ phận một cửa còn cũ, cấu hình thấp, dễ hư hỏng; nguồn điện tại một số nơi chưa đảm bảo liên tục. Việc thiếu các trung tâm dữ liệu, phòng máy chủ đạt chuẩn cũng khiến nhiều địa phương phải phụ thuộc vào hạ tầng dùng chung của cấp trên, dẫn đến tình trạng nghẽn mạng, gián đoạn dịch vụ khi lượng truy cập tăng cao. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, tính liên tục của các dịch vụ công trực tuyến cung cấp cho người dân.
3.2. Chênh lệch trình độ tiếp cận công nghệ giữa các nhóm dân cư: Khả năng tiếp cận và sử dụng công nghệ số của người dân không đồng đều, tạo ra khoảng cách số (digital divide) giữa các nhóm dân cư. Người dân ở khu vực đô thị, có trình độ học vấn cao, trẻ tuổi thường tiếp cận nhanh với các nền tảng dịch vụ công trực tuyến, trong khi người cao tuổi, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người có thu nhập thấp ở nông thôn, miền núi gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng thiết bị thông minh, thao tác trên các ứng dụng, cổng dịch vụ công. Sự chênh lệch này khiến một bộ phận không nhỏ người dân vẫn phải nhờ cán bộ, công chức hoặc người thân thực hiện thay các thủ tục trực tuyến, làm giảm hiệu quả thực chất của chuyển đổi số trong cung cấp dịch vụ công.
3.3. Thiếu nhân lực công nghệ thông tin tại cơ sở: Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phụ trách công nghệ thông tin còn mỏng, phần lớn là kiêm nhiệm, chưa được đào tạo bài bản, chuyên sâu về quản trị hệ thống, an toàn thông tin hay xử lý sự cố kỹ thuật. Chế độ đãi ngộ chưa tương xứng khiến việc thu hút, giữ chân nhân lực chất lượng cao về công tác tại cơ sở gặp nhiều khó khăn, dẫn đến tình trạng “chảy máu chất xám” từ cấp xã lên các đơn vị cấp cao hơn hoặc khu vực tư nhân. Khi phát sinh sự cố kỹ thuật, nhiều xã phải chờ hỗ trợ từ cấp huyện, cấp tỉnh, làm chậm tiến độ giải quyết thủ tục hành chính, ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
3.4. Dữ liệu còn phân tán, chưa đồng bộ: Các cơ sở dữ liệu chuyên ngành (đất đai, hộ tịch, dân cư, bảo hiểm xã hội, tư pháp...) hiện được xây dựng và quản lý bởi nhiều ngành, nhiều cấp khác nhau, chưa được liên thông, kết nối, chia sẻ thông suốt. Tình trạng dữ liệu trùng lặp, thiếu nhất quán về chuẩn định dạng, thiếu cập nhật kịp thời vẫn còn phổ biến, khiến cán bộ cấp xã phải nhập liệu thủ công nhiều lần trên các hệ thống khác nhau. Việc thiếu một nền tảng dữ liệu dùng chung, đồng bộ theo thời gian thực làm hạn chế khả năng khai thác, phân tích dữ liệu phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, đồng thời gây khó khăn cho người dân khi phải cung cấp lại nhiều lần các thông tin, giấy tờ đã có trong hệ thống.
3.5. Nguy cơ mất an toàn thông tin mạng: Cùng với quá trình số hóa mạnh mẽ, nguy cơ mất an toàn, an ninh thông tin ngày càng gia tăng. Hệ thống thông tin tại nhiều xã chưa được đầu tư đầy đủ các giải pháp bảo mật, tường lửa, sao lưu dữ liệu định kỳ; cán bộ vận hành thiếu kiến thức, kỹ năng phòng, chống tấn công mạng, lừa đảo trực tuyến, mã độc tống tiền. Trong khi đó, dữ liệu công dân, dữ liệu hành chính được lưu trữ trên môi trường số ngày càng lớn, trở thành mục tiêu tiềm ẩn của các đối tượng xấu. Nếu xảy ra sự cố rò rỉ, mất mát hoặc bị tấn công dữ liệu, hậu quả không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của chính quyền mà còn tác động trực tiếp đến quyền lợi, sự an toàn thông tin cá nhân của người dân.
Chuyển đổi số đòi hỏi sự thay đổi về tư duy, thói quen làm việc và giải quyết thủ tục hành chính, tuy nhiên vẫn còn một bộ phận cán bộ, công chức có tâm lý e ngại, chưa chủ động học hỏi, ứng dụng công nghệ mới, vẫn quen với phương thức làm việc truyền thống trên giấy tờ. Về phía người dân, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tâm lý lo ngại về tính bảo mật, sợ sai sót khi thao tác trực tuyến, thói quen “đến trực tiếp cho chắc chắn” vẫn còn khá phổ biến. Đây là rào cản mang tính nhận thức, đòi hỏi phải có thời gian, sự kiên trì trong công tác tuyên truyền, hướng dẫn, đồng thời cần có cơ chế khuyến khích, tạo niềm tin để cả cán bộ và người dân sẵn sàng tiếp nhận, sử dụng các dịch vụ công trực tuyến một cách chủ động, thường xuyên.
4.1. Hoàn thiện thể chế: Trước hết là ban hành cơ chế quản lý dữ liệu thống nhất. Cần sớm hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy chế quản lý, khai thác, chia sẻ dữ liệu giữa các ngành, các cấp theo hướng thống nhất về chuẩn dữ liệu, định dạng, quy trình cập nhật. Cấp có thẩm quyền cần quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, cá nhân trong việc thu thập, cập nhật, bảo đảm tính chính xác, “đúng, đủ, sạch, sống” của dữ liệu, tránh tình trạng cát cứ thông tin, mỗi ngành xây dựng một cơ sở dữ liệu riêng lẻ, không kết nối được với nhau. Tiếp theo, cần chuẩn hóa quy trình giải quyết thủ tục hành chính điện tử. Cần rà soát, tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa, cắt giảm thành phần hồ sơ, rút ngắn thời gian giải quyết, phù hợp với môi trường điện tử; xây dựng bộ quy trình mẫu thống nhất áp dụng chung cho cấp xã trên phạm vi cả nước, hạn chế tình trạng mỗi địa phương áp dụng một cách làm khác nhau, gây khó khăn cho công tác liên thông, tích hợp hệ thống.
4.2. Phát triển hạ tầng số. Cần đầu tư mạng, thiết bị và nền tảng số. Cần ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư nâng cấp đường truyền internet, trang bị máy tính, thiết bị đầu cuối, chữ ký số, hệ thống camera, máy quét tại bộ phận một cửa, đặc biệt tại các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo còn nhiều khó khăn về hạ tầng. Đồng thời, cần phát triển các nền tảng số dùng chung (nền tảng định danh điện tử, nền tảng thanh toán trực tuyến, nền tảng họp trực tuyến...) để giảm chi phí đầu tư trùng lặp giữa các địa phương. Phải bảo đảm kết nối đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở. Hạ tầng số cấp xã cần được thiết kế bảo đảm khả năng kết nối thông suốt, liên tục với hệ thống thông tin của cấp huyện, cấp tỉnh và Trung ương, tránh tình trạng “manh mún”, mỗi cấp một hệ thống riêng biệt. Cần có cơ chế giám sát, đánh giá định kỳ chất lượng hạ tầng, kịp thời khắc phục các điểm nghẽn kỹ thuật, bảo đảm hệ thống vận hành ổn định, thông suốt 24/7.
4.3. Xây dựng và hoàn thiện mô hình chính quyền cấp xã ứng dụng công nghệ số và Trung tâm phục vụ hành chính công trong chính quyền số cấp xã
Về mô hình chính quyền xã ứng dụng công nghệ số, cần xác định những nhiệm vụ để hành động, bao gồm: Nhà nước làm gì? Doanh nghiệp làm gì? Trí thức, nhà khoa học làm gì? Toàn dân làm gì? Thụ hưởng như thế nào? Theo đó, Nhà nước cần tập trung bốn việc: (1) Hoàn thiện thể chế, pháp lý để thực hiện đột phá, phát triển, (2) Xây dựng hệ thống hạ tầng phục vụ đột phá, (3) Tạo nguồn nhân lực phong phú, trí tuệ đủ năng lực để đột phá, (4) Đảm bảo an ninh, an toàn dữ liệu thông tin, bí mật, bí quyết, bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ, bảo mật chủ quyền quốc gia, phát triển độc lập.
Các nhiệm vụ cốt lõi:
|
Nhiệm vụ |
Nội dung chủ yếu |
|
Công khai, cung cấp thông tin |
Danh mục thủ tục hành chính; điều kiện, thành phần hồ sơ; thời hạn; phí, lệ phí; cơ quan giải quyết |
|
Tiếp nhận hồ sơ trực tuyến |
Người dân/tổ chức đăng nhập, khai biểu mẫu điện tử, tải hồ sơ, gửi hồ sơ trên Cổng Dịch vụ công |
|
Định danh và xác thực |
Xác thực người thực hiện thủ tục; khai thác thông tin từ các cơ sở dữ liệu có thẩm quyền |
|
Xử lý hồ sơ số |
Kiểm tra, phân loại, luân chuyển, thẩm định và phê duyệt hồ sơ trên hệ thống |
|
Thanh toán trực tuyến |
Thu phí, lệ phí và các nghĩa vụ tài chính bằng phương thức điện tử khi có quy định |
|
Trả kết quả điện tử |
Cung cấp kết quả điện tử; trường hợp cần thiết thì trả bản giấy theo quy định |
|
Theo dõi và đánh giá |
Tra cứu trạng thái hồ sơ, thông báo tiến độ, tiếp nhận phản ánh, đánh giá mức độ hài lòng |
Về quy
trình cung cấp dịch vụ công trực tuyến cấp xã bao gồm:
+ Tra cứu thủ tục: Người dân tìm kiếm thủ tục hành chính cần thực hiện trên Cổng Dịch vụ công.
+ Đọc và kiểm tra điều kiện: Xem đối tượng thực hiện, thành phần hồ sơ, thời hạn, phí/lệ phí và phương thức nhận kết quả.
+ Đăng nhập và xác thực: Người dân sử dụng tài khoản định danh/xác thực điện tử theo quy định.
+ Khai hồ sơ điện tử: Điền biểu mẫu trực tuyến; hệ thống có thể tự động điền một số thông tin từ dữ liệu đã có.
+ Đính kèm và gửi hồ sơ: Tải lên các tài liệu cần thiết → kiểm tra → ký/xác nhận điện tử nếu thủ tục yêu cầu → gửi hồ sơ.
+ Hệ thống tiếp nhận và kiểm tra: Hồ sơ được ghi nhận, cấp mã hồ sơ và chuyển đến bộ phận/công chức có thẩm quyền xử lý.
+ Xử lý và giải quyết hồ sơ: Công chức kiểm tra, thẩm định, yêu cầu bổ sung nếu cần, phối hợp với các cơ quan liên quan và trình người có thẩm quyền quyết định.
+ Thanh toán trực tuyến: Người dân thực hiện nghĩa vụ tài chính trực tuyến nếu phát sinh.
+ Trả kết quả: Kết quả được trả điện tử trên hệ thống, qua phương thức điện tử phù hợp hoặc bản giấy theo quy định.
+ Đánh giá và lưu trữ: Người dân đánh giá chất lượng phục vụ; hồ sơ và kết quả được lưu trữ, phục vụ tra cứu và quản lý.
Về mô hình Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã
- Ứng dụng cụ thể: Chứng thực, hộ tịch (khai sinh, khai tử, kết hôn); Xác nhận cư trú; Đăng ký kinh doanh hộ cá thể; Thủ tục đất đai ban đầu.
- Hệ thống một cửa điện tử và số hóa hồ sơ: số hóa 100% hồ sơ tiếp nhận; Luân chuyển xử lý nội bộ qua môi trường mạng; Giảm tiếp xúc trực tiếp, hạn chế tiêu cực; Lưu trữ hồ sơ điện tử lâu dài. Đặc biệt tại đặc khu, yêu cầu phải đáp ứng yêu cầu xử lý thủ tục nhanh (mô hình “fast-track“); tích hợp đầu tư, xây dựng, đất đai trên cùng nền tảng; hỗ trợ nhà đầu tư nước ngoài bằng giao diện song ngữ.
- Ứng dụng định danh điện tử và dữ liệu dân cư: Tích hợp với ứng dụng VNeID; khai thác dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để đem lại các lợi ích, đó là không cần nộp lại giấy tờ đã có trong hệ thống; Tự động điền thông tin; Xác thực danh tính điện tử; Giảm giấy tờ, giảm thời gian xử lý
- Thanh toán không dùng tiền mặt: Tích hợp QR code tại bộ phận một cửa; Thanh toán qua ngân
hàng, ví điện tử; Biên lai điện tử để
đem lại các lợi ích, đó là minh bạch tài chính; Giảm chi phí quản lý;
Phù hợp xu hướng kinh tế số.
Có thể tiếp cận Trung tâm Phục vụ hành
chính công cấp xã như một “đầu mối một cửa số” của
chính quyền cấp xã, thực hiện tiếp nhận, hướng dẫn, số hóa, luân chuyển, theo
dõi, trả kết quả và đánh giá việc giải quyết thủ tục hành chính cho người dân,
tổ chức.
|
Nhóm hoạt động |
Nội dung |
|
Hướng dẫn |
Cung cấp thông tin, hướng dẫn người dân lựa chọn thủ tục, chuẩn bị hồ sơ và phương thức thực hiện |
|
Tiếp nhận |
Tiếp nhận hồ sơ trực tiếp và trực tuyến; kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ |
|
Số hóa |
Số hóa hồ sơ, tài liệu; cập nhật dữ liệu vào hệ thống giải quyết thủ tục hành chính |
|
Phân loại - luân chuyển |
Chuyển hồ sơ đến công chức/bộ phận chuyên môn hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết |
|
Phối hợp xử lý |
Theo dõi, đôn đốc và phối hợp giữa các bộ phận, cơ quan liên quan trong quá trình giải quyết |
|
Trả kết quả |
Trả kết quả trực tiếp, trực tuyến hoặc qua dịch vụ bưu chính theo quy định |
|
Giám sát - đánh giá |
Theo dõi thời gian, tiến độ, tỷ lệ đúng hạn; tiếp nhận phản ánh và đánh giá mức độ hài lòng |
|
Phân tích dữ liệu |
Tổng hợp dữ liệu để phục vụ điều hành, cải cách hành chính và nâng cao chất lượng phục vụ |
+ Người dân có nhu cầu: Xác định thủ tục hành chính cần thực hiện.
+ Hướng dẫn, tra cứu: Tra cứu thủ tục trên môi trường số hoặc được cán bộ tại Trung tâm hướng dẫn.
+ Tiếp nhận hồ sơ: Trực tiếp/trực tuyến/qua bưu điện.
+ Kiểm tra và số hóa: Kiểm tra thành phần hồ sơ → số hóa tài liệu → tạo hồ sơ điện tử → cấp mã hồ sơ.
+ Phân loại và chuyển xử lý: Hồ sơ được chuyển đến công chức/bộ phận chuyên môn có thẩm quyền.
+ Giải quyết hồ sơ: Thẩm định → xác minh khi cần → phối hợp liên thông → trình cấp có thẩm quyền quyết định.
+ Kiểm soát tiến độ: Trung tâm theo dõi trạng thái hồ sơ, cảnh báo hồ sơ sắp quá hạn và đôn đốc xử lý.
+ Trả kết quả: Kết quả điện tử/bản giấy → trả trực tiếp, trực tuyến hoặc qua bưu chính.
+ Đánh giá và khai thác dữ liệu: Đánh giá sự hài lòng → tiếp nhận phản ánh → lưu trữ → phân tích dữ liệu phục vụ quản trị.
4.4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Đào tạo kỹ năng số cho cán bộ, công chức. Cần tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về kỹ năng số, kỹ năng vận hành hệ thống, xử lý sự cố cơ bản, kỹ năng khai thác dữ liệu cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, đặc biệt là công chức trực tiếp làm việc tại bộ phận một cửa. Cần có chính sách thu hút, đãi ngộ hợp lý nhằm khuyến khích nhân lực có trình độ công nghệ thông tin về công tác, gắn bó lâu dài tại cơ sở. Tập huấn người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Cần huy động lực lượng đoàn viên, thanh niên, tổ công nghệ số cộng đồng phối hợp với cán bộ xã tổ chức hướng dẫn trực tiếp, “cầm tay chỉ việc“ cho người dân, nhất là người cao tuổi, người dân tộc thiểu số trong việc đăng ký tài khoản, nộp hồ sơ, tra cứu kết quả trên cổng dịch vụ công, từng bước hình thành thói quen sử dụng dịch vụ công trực tuyến trong cộng đồng.
4.5. Tăng cường dữ liệu số. Số hóa hồ sơ hành chính: cần đẩy nhanh tiến độ số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính còn hiệu lực, xây dựng kho dữ liệu điện tử của tổ chức, cá nhân tại cấp xã, tạo tiền đề để người dân, doanh nghiệp không phải cung cấp lại thông tin, giấy tờ đã có trong hệ thống khi thực hiện các thủ tục tiếp theo. Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung: đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác (đất đai, hộ tịch, bảo hiểm xã hội...), hình thành kho dữ liệu dùng chung thống nhất, làm nền tảng để cấp xã khai thác, sử dụng phục vụ giải quyết thủ tục hành chính, hạn chế tình trạng dữ liệu phân tán, chồng chéo. Ứng dụng AI hỗ trợ trả lời tự động và phân loại hồ sơ: cần nghiên cứu, triển khai thí điểm các trợ lý ảo (chatbot), hệ thống trí tuệ nhân tạo hỗ trợ tiếp nhận, phân loại hồ sơ, trả lời tự động các câu hỏi thường gặp của người dân về thủ tục hành chính, giúp giảm tải công việc cho cán bộ, rút ngắn thời gian chờ đợi, nâng cao trải nghiệm của người dân khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến.
4.6. Bảo đảm an toàn thông tin: Tăng cường bảo mật hệ thống: cần đầu tư đồng bộ các giải pháp bảo mật (tường lửa, mã hóa dữ liệu, xác thực đa lớp, sao lưu dữ liệu định kỳ) cho hệ thống thông tin cấp xã; xây dựng phương án dự phòng, khắc phục sự cố nhằm bảo đảm hệ thống hoạt động liên tục, hạn chế thấp nhất rủi ro mất, rò rỉ dữ liệu. Kiểm tra, giám sát an ninh mạng thường xuyên: cần tổ chức đánh giá, kiểm tra định kỳ mức độ an toàn thông tin của hệ thống cấp xã; tăng cường tập huấn, nâng cao nhận thức, kỹ năng phòng, chống tấn công mạng, lừa đảo trực tuyến cho cán bộ, công chức; thiết lập cơ chế cảnh báo sớm, phối hợp chặt chẽ với cơ quan chuyên trách về an toàn thông tin cấp trên khi phát hiện dấu hiệu bất thường.
4.7. Đẩy mạnh tuyên truyền. Khuyến khích người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến: cần đa dạng hóa hình thức tuyên truyền (qua loa truyền thanh cơ sở, mạng xã hội, tờ rơi, pano, áp phích...) về lợi ích, cách thức sử dụng dịch vụ công trực tuyến; có chính sách khuyến khích như giảm thời gian xử lý, ưu tiên tiếp nhận đối với hồ sơ nộp trực tuyến nhằm tạo động lực để người dân thay đổi thói quen. Xây dựng văn hóa số trong cộng đồng: Cần gắn công tác tuyên truyền chuyển đổi số với các phong trào, cuộc vận động tại địa phương, từng bước hình thành văn hóa số trong cán bộ, công chức và người dân, coi việc ứng dụng công nghệ số là công cụ thiết yếu, gắn liền với đời sống hằng ngày, qua đó tạo nền tảng bền vững cho quá trình xây dựng chính quyền số cấp xã trong giai đoạn tiếp theo.
Kết luận
Xây dựng chính quyền số và ứng dụng cung cấp dịch vụ công tại xã, phường, đặc khu là yêu cầu tất yếu trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Đây không chỉ là đổi mới công nghệ mà còn là đổi mới tư duy quản trị, phương thức phục vụ nhân dân và tổ chức hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Chính quyền số ở cấp cơ sở sẽ góp phần xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, hiệu quả, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên số. Nhìn chung, các nhóm giải pháp trên cần được triển khai đồng bộ, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, gắn với lộ trình, nguồn lực cụ thể. Trong đó, yếu tố con người và thể chế cần được xem là nền tảng, hạ tầng và dữ liệu là công cụ, còn công tác tuyên truyền, tạo dựng văn hóa số là điều kiện bảo đảm để chính quyền số cấp xã thực sự đi vào cuộc sống, phục vụ hiệu quả, thực chất nhu cầu của người dân và doanh nghiệp./.
------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
2. Quốc hội (2025), Luật Chuyển đổi số, số 148/2025/QH15.
3. Bộ Thông tin và Truyền thông (2021). Cẩm nang chuyển đổi số. Tài liệu lưu hành nội bộ.
4. Bộ Thông tin và Truyền thông (2023), Báo cáo về chuyển đổi số năm 2023.
5. Bộ Thông tin và Truyền thông (2023), Chỉ thị 01/CT-BTTTT về định hướng phát triển ngành Thông tin và Truyền thông năm 2023 và giai đoạn 2024 – 2025.
6. Chính phủ (2019), Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển CPĐT giai đoạn 2019-2020, định hướng đến năm 2025.
7. Chính phủ (2020), Nghị định số 47/NĐ-CP ngày 09/4/2020 về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước.
8. Chính phủ (2022), Nghị định số 42/2022/NĐ-CP về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
TS Lại Đức Vượng - Giảng viên cao cấp, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả