Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Ninh Bình: Sắp xếp thôn, tổ dân phố gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả quản trị cơ sở

Ngày đăng: 07/11/2026   07:06
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Trong quá trình đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở, việc tổ chức lại thôn, tổ dân phố là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm sự phù hợp với quy mô dân số, điều kiện địa lý và đặc điểm cộng đồng dân cư. Tại Ninh Bình, việc sắp xếp được đặt ra không chỉ nhằm tinh gọn đầu mối, thuận lợi cho công tác quản lý mà còn hướng tới nâng cao chất lượng hoạt động ở cơ sở, phát huy vai trò tự quản của cộng đồng và tạo sự đồng thuận trong Nhân dân. Đặc biệt, quá trình này chú trọng hài hòa giữa yêu cầu đổi mới tổ chức với việc gìn giữ những giá trị văn hóa, lịch sử và truyền thống của từng địa bàn dân cư.


Thôn Đào Lâm (xã Đại Hoàng, tỉnh Ninh Bình) được hình thành trên cơ sở sáp nhập xóm 1, xóm 2, xóm 3, xóm 4, góp phần tinh gọn bộ máy, nâng cao chất phục vụ Nhân dân.

Sắp xếp đồng bộ, bảo đảm phù hợp đặc điểm từng địa bàn

Thôn, tổ dân phố là địa bàn gắn bó trực tiếp với đời sống của người dân, hình thành qua quá trình phát triển dân cư, lịch sử, văn hóa và đặc điểm sản xuất của từng vùng. Tại Ninh Bình, quá trình hình thành các đơn vị dân cư chịu ảnh hưởng từ mô hình tổ chức hợp tác xã nông nghiệp trước đây. Trong thời kỳ hợp tác xã quy mô toàn xã, nhiều thôn được hợp nhất thành đội sản xuất. Từ khi thực hiện đường lối đổi mới năm 1986, hộ nông dân trở thành chủ thể trong sản xuất nông nghiệp, vai trò của đội sản xuất dần thay đổi. Một số thôn từng hợp nhất theo đội sản xuất lại được chia tách theo địa bàn dân cư cũ, dẫn đến tình trạng quy mô thôn, tổ dân phố không đồng đều.

Thực hiện chủ trương của Trung ương và Ban Thường vụ Tỉnh ủy, giai đoạn 2017 - 2024, Ninh Bình đã triển khai nhiều đợt sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố. Từ 6.591 đơn vị năm 2017, đến nay toàn tỉnh còn 4.482 đơn vị, giảm 2.109 đơn vị, tương đương 32%. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới về tổ chức bộ máy và tiêu chuẩn quy mô dân cư, số lượng thôn, tổ dân phố chưa đạt chuẩn vẫn chiếm tỷ lệ lớn. Cụ thể, có 1.106/1.223 tổ dân phố có quy mô dưới 550 hộ gia đình, chiếm 90,43%; 2.739/3.259 thôn có quy mô dưới 400 hộ, chiếm 84,04%. Một số đơn vị có số hộ rất thấp như thôn Sấm 3 (xã Cúc Phương) với 32 hộ, thôn Yên Hóa (xã Đồng Thái) với 39 hộ và tổ dân phố Sòng Vặn (phường Tam Điệp) với 34 hộ.

Thực tế này ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức các hoạt động cộng đồng, khả năng huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới, tổ chức các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể thao. Trong khi đó, số lượng thôn, tổ dân phố lớn đồng nghĩa với việc phải bố trí nhiều người hoạt động không chuyên trách và kinh phí hỗ trợ tương ứng. Hiện tổng kinh phí chi trả phụ cấp, hỗ trợ người trực tiếp tham gia hoạt động và khoán kinh phí hoạt động cho thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh khoảng hơn 900 tỷ đồng mỗi năm.

Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã năm 2025, bình quân mỗi xã, phường có 34 thôn, tổ dân phố. Số lượng đầu mối lớn cũng tạo thêm áp lực cho chính quyền cơ sở trong công tác quản lý, điều hành, nắm bắt tình hình dân cư và triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Từ yêu cầu thực tiễn, UBND tỉnh xây dựng phương án tổng thể sắp xếp thôn, tổ dân phố năm 2026 với định hướng không chỉ giảm số lượng đơn vị mà còn tổ chức lại không gian cộng đồng dân cư phù hợp hơn với điều kiện quản lý mới. Theo đó, thôn sau sắp xếp phải có từ 400 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố có từ 550 hộ gia đình trở lên. Đây là tiêu chí cơ bản để tổ chức các đơn vị dân cư có quy mô hợp lý, tạo điều kiện tập trung nguồn lực và nâng cao hiệu quả hoạt động.

Tuy nhiên, việc thực hiện tiêu chuẩn không máy móc, cứng nhắc theo số lượng hộ gia đình. Phương án xác định rõ những địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thôn đặc biệt khó khăn, khu vực địa hình chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, dân cư sinh sống phân tán; địa bàn biên giới, khu vực quy hoạch giải phóng mặt bằng, di dân, tái định cư hoặc thôn, tổ dân phố biệt lập trên sông có thể xem xét quy mô thấp hơn. Những trường hợp này được báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh xem xét, quyết định trên cơ sở điều kiện thực tế, yêu cầu quản lý và tính ổn định của cộng đồng dân cư.

Cùng với tiêu chuẩn về số hộ, các đơn vị sau sắp xếp cần có cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu, phù hợp với điều kiện địa phương, bảo đảm phục vụ sinh hoạt cộng đồng và ổn định đời sống người dân. Điều này cho thấy việc tổ chức lại thôn, tổ dân phố được đặt trong tổng thể các điều kiện về không gian dân cư, hạ tầng và khả năng tổ chức hoạt động, thay vì chỉ tập trung vào việc sáp nhập cơ học các đơn vị có quy mô nhỏ.

Đặc biệt, phương án nhấn mạnh nguyên tắc xem xét đầy đủ các yếu tố lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán, điều kiện địa lý, quốc phòng, an ninh và sự gắn kết tự nhiên của cộng đồng dân cư. Đây là cơ sở quan trọng để hạn chế những xáo trộn không cần thiết, nhất là tại những địa bàn có đặc điểm dân cư, tôn giáo và truyền thống văn hóa riêng. Việc sắp xếp phải đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn tổ chức và bảo đảm đời sống cộng đồng tiếp tục ổn định.

Công tác tuyên truyền, vận động được xác định là khâu quan trọng nhằm tạo sự đồng thuận trong Nhân dân. Người dân phải được cung cấp đầy đủ thông tin, tham gia góp ý và giám sát quá trình sắp xếp theo quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Quá trình triển khai cũng phải bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, chủ động nắm bắt tình hình và kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh ngay từ cơ sở.

Giảm 60,89% số thôn, tổ dân phố, chú trọng đồng thuận và ổn định cơ sở

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố, năm 2026, tỉnh Ninh Bình đã tiến hành sắp xếp 4.482 thôn, tổ dân phố hiện có, gồm 3.259 thôn và 1.223 tổ dân phố, thành 1.753 đơn vị mới, gồm 1.249 thôn và 504 tổ dân phố thuộc 128 xã, phường. Riêng xã Lý Nhân không thực hiện sắp xếp do các thôn hiện tại đã bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định.

Sau sắp xếp, toàn tỉnh giảm 2.729 thôn, tổ dân phố, tương đương 60,89% so với trước đây. Đây là kết quả đáng kể trong quá trình tinh gọn đầu mối ở cơ sở, góp phần khắc phục tình trạng phân tán về quy mô dân cư, giảm số lượng đơn vị phải quản lý và tạo điều kiện tập trung nguồn lực cho hoạt động của cộng đồng.

Đáng chú ý, chất lượng quy mô các đơn vị sau sắp xếp được nâng lên rõ rệt. Toàn tỉnh có 1.731/1.753 thôn, tổ dân phố đạt tiêu chuẩn quy định, chiếm 98,75%. Trong đó, 572 thôn có trên 700 hộ gia đình và 58 tổ dân phố có trên 1.000 hộ gia đình. Chỉ còn 22 đơn vị chưa đạt tiêu chuẩn, gồm 19 thôn và 3 tổ dân phố, chiếm 1,25%. Những trường hợp này chủ yếu do điều kiện địa hình, dân cư, phong tục, tập quán và đặc điểm văn hóa, tôn giáo riêng biệt, không thể tiếp tục sáp nhập mà vẫn bảo đảm sự thuận lợi trong quản lý và duy trì tính gắn kết cộng đồng.

Cụ thể, có 8 thôn, tổ dân phố chưa đạt tiêu chuẩn nhưng được giữ nguyên, gồm 7 thôn và 1 tổ dân phố. Đây là những địa bàn có vị trí địa lý đặc biệt, địa hình chia cắt phức tạp, dân cư sinh sống phân tán, giao thông đi lại khó khăn hoặc có yếu tố đặc thù về dân tộc, tôn giáo, phong tục, tập quán. Việc duy trì các đơn vị này thể hiện sự linh hoạt trong tổ chức thực hiện, không chạy theo tiêu chí quy mô một cách máy móc, đồng thời bảo đảm yêu cầu quản lý địa bàn và ổn định đời sống Nhân dân.

Bên cạnh đó, có 14 thôn, tổ dân phố mới hình thành sau sắp xếp nhưng vẫn chưa đạt tiêu chuẩn, gồm 12 thôn và 2 tổ dân phố. Các đơn vị này đã được hình thành trên cơ sở hợp nhất từ 2 đến 7 thôn, tổ dân phố cũ. Tuy nhiên, do đặc điểm địa bàn chia cắt, có yếu tố riêng về văn hóa, tôn giáo nên việc tiếp tục sáp nhập với các khu dân cư liền kề có thể khiến phạm vi quản lý quá rộng, gây khó khăn cho hoạt động của cộng đồng hoặc ảnh hưởng đến bản sắc truyền thống.

Một nội dung được quan tâm trong quá trình sắp xếp là việc lựa chọn tên gọi cho các thôn, tổ dân phố mới. Đây không chỉ là vấn đề hành chính mà còn liên quan đến lịch sử hình thành, ký ức cộng đồng và bản sắc văn hóa của mỗi địa phương. Kết quả, trong tổng số 1.753 thôn, tổ dân phố sau sắp xếp, có 384 đơn vị tiếp tục sử dụng tên gọi của một trong các thôn, tổ dân phố trước khi sắp xếp, chiếm 21,9%; 1.369 đơn vị sử dụng tên gọi truyền thống của làng, bản cũ, tên theo đơn vị hành chính xã cũ hoặc địa danh khác, chiếm 78,1%.

Việc lựa chọn tên gọi được thực hiện theo hướng tôn trọng lịch sử, truyền thống và nguyện vọng của Nhân dân. Những tên gọi gắn với địa danh lâu đời, có ý nghĩa về lịch sử, văn hóa được quan tâm gìn giữ; đồng thời, việc đổi tên được xem xét khi có sự trùng lặp trong cùng đơn vị hành chính cấp xã hoặc xuất phát từ nguyện vọng của cộng đồng dân cư. Cách làm này góp phần hạn chế những xáo trộn không cần thiết, nhất là đối với giấy tờ nhân thân, địa chỉ liên lạc của cá nhân, tổ chức và các giao dịch trong đời sống hằng ngày.

Có thể thấy, kết quả sắp xếp tại Ninh Bình không chỉ thể hiện ở việc giảm mạnh số lượng thôn, tổ dân phố mà còn ở cách thức tổ chức lại các cộng đồng dân cư theo hướng phù hợp hơn với điều kiện quản lý mới. Việc phần lớn đơn vị sau sắp xếp đạt tiêu chuẩn quy mô hộ gia đình tạo tiền đề để nâng cao hiệu quả tổ chức các hoạt động văn hóa, xã hội, huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới, chỉnh trang đô thị và triển khai các phong trào tại địa phương. Khi quy mô cộng đồng được mở rộng hợp lý, việc tập hợp người dân, phát huy sức mạnh đoàn kết và huy động sự tham gia của các hộ gia đình vào những công việc chung cũng có thêm điều kiện thuận lợi.

Đặc biệt, việc giảm số lượng đầu mối góp phần tạo điều kiện cơ cấu lại đội ngũ người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố, từng bước nâng cao chất lượng nhân sự và hiệu quả sử dụng ngân sách. Thay vì phân bổ nguồn lực cho quá nhiều đơn vị có quy mô nhỏ, địa phương có điều kiện tập trung hơn cho những nhiệm vụ thiết thực, nâng cao mức hỗ trợ, phụ cấp và điều kiện hoạt động của đội ngũ trực tiếp làm việc tại cộng đồng dân cư theo quy định.

Từ kết quả đạt được có thể thấy Ninh Bình đã tạo bước chuyển đáng kể trong tổ chức cộng đồng dân cư. Kết quả này là nền tảng để chính quyền cấp xã giảm áp lực quản lý, tập trung nguồn lực và nâng cao chất lượng phục vụ người dân. Quan trọng hơn, quá trình sắp xếp đã đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới phương thức quản trị ở cơ sở, phát huy vai trò tự quản của cộng đồng, giữ gìn truyền thống văn hóa và củng cố sự đồng thuận trong Nhân dân, đáp ứng yêu cầu vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 02 cấp./.

Thanh Hà