Trong bối cảnh chuyển đổi số, tự động hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra mạnh mẽ, chất lượng nguồn lao động ngày càng có ý nghĩa quyết định đối với năng suất, năng lực cạnh tranh và triển vọng phát triển của đất nước. Lợi thế về lao động dồi dào, chi phí thấp không còn đủ bảo đảm tăng trưởng dài hạn nếu không đi cùng với nâng cao kỹ năng, năng suất và khả năng thích ứng của người lao động.
Thực tế cho thấy, thị trường lao động vẫn đối mặt với những thách thức như thiếu hụt lao động có kỹ năng phù hợp, khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng lao động, tình trạng việc làm phi chính thức và nguy cơ một bộ phận lao động bị tác động bởi công nghệ, tự động hóa. Những vấn đề này đặt ra yêu cầu đổi mới chính sách phát triển nguồn nhân lực theo hướng gắn đào tạo với nhu cầu thị trường, nâng cao chất lượng việc làm và mở rộng cơ hội sinh kế bền vững.
Các yêu cầu trên được nhấn mạnh tại Thông báo số 123-TB/VPTW ngày 16/7/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng, thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc về chất lượng nguồn lao động Việt Nam, giải pháp tạo việc làm bền vững ở đô thị, nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và công tác đào tạo nguồn nhân lực trong giai đoạn phát triển mới. Theo đó, phát triển nguồn nhân lực cần được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với tạo việc làm, nâng cao kỹ năng và bảo đảm quyền lợi của người lao động.
Điểm đáng chú ý là hiệu quả chính sách không thể chỉ được đánh giá qua số lượng lao động được đào tạo hay số việc làm được tạo ra, mà cần xem xét khả năng tìm được việc làm phù hợp, mức thu nhập, cơ hội phát triển kỹ năng và điều kiện làm việc của người lao động. Đây cũng là cơ sở để chuyển từ cách tiếp cận thiên về số lượng sang chú trọng chất lượng, tính ổn định và hiệu quả thực chất của việc làm.
Cụ thể hóa định hướng của Trung ương, ngày 12/8/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1538/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai thực hiện Thông báo số 123-TB/VPTW. Kế hoạch yêu cầu các bộ, ngành, địa phương phối hợp triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp, bảo đảm nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ kết quả, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền”. Đây là cơ sở để chuyển các định hướng chính sách thành nhiệm vụ cụ thể, gắn với trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị.
Một trọng tâm là mở rộng cơ hội việc làm bền vững phù hợp với đặc điểm từng khu vực. Tại đô thị, cần phát huy vai trò của doanh nghiệp, nhất là khu vực kinh tế tư nhân và doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong tạo việc làm; đồng thời hỗ trợ lao động phi chính thức chuyển sang khu vực việc làm chính thức, tăng cường tư vấn, đào tạo lại và chuyển đổi nghề nghiệp cho người mất việc hoặc có nguy cơ mất việc do chuyển đổi số, tự động hóa. Chất lượng việc làm cũng cần gắn với điều kiện sống, khả năng tiếp cận nhà ở, y tế, giáo dục, giao thông và các dịch vụ thiết yếu, nhất là tại những khu vực tập trung đông lao động.
Đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường, phát triển đa dạng sinh kế góp phần tạo việc làm bền vững, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn. Ảnh minh họa
Ở nông thôn, tạo việc làm cần gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao giá trị sản xuất và đa dạng hóa sinh kế. Bên cạnh nông nghiệp, cần phát huy tiềm năng của công nghiệp chế biến, làng nghề, logistics, thương mại điện tử và du lịch nông thôn. Đào tạo nghề cần xuất phát từ nhu cầu thị trường và điều kiện phát triển của từng địa phương, gắn với liên kết sản xuất - tiêu thụ để người lao động có thể vận dụng kỹ năng, tạo ra sản phẩm có giá trị và cải thiện thu nhập.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chính sách việc làm cần phù hợp với điều kiện thực tế, lợi thế và bản sắc văn hóa của từng địa bàn. Các lĩnh vực như nông nghiệp đặc sản, kinh tế rừng, dược liệu, nghề thủ công và du lịch cộng đồng có thể góp phần mở rộng cơ hội sinh kế. Đặc biệt, đào tạo nghề cần gắn với khả năng tạo việc làm, tiêu thụ sản phẩm và nâng cao thu nhập, tránh hình thức, dàn trải. Cùng với đó, cần tăng cường kết nối thị trường, hỗ trợ tiếp cận tín dụng, thông tin việc làm và bảo vệ người lao động trước nguy cơ bị lừa đảo, bóc lột hoặc rơi vào tình trạng việc làm bấp bênh.
Cùng với tạo việc làm theo đặc điểm từng khu vực, đổi mới đào tạo và hiện đại hóa thị trường lao động là những giải pháp có tính nền tảng. Thông tin về nhu cầu nhân lực theo ngành, nghề và địa phương cần được cập nhật thường xuyên, làm căn cứ để cơ sở đào tạo điều chỉnh chương trình, doanh nghiệp chủ động kế hoạch tuyển dụng và người lao động lựa chọn hướng phát triển nghề nghiệp. Việc nâng cao chất lượng đào tạo thực hành, đào tạo lại, cập nhật chuẩn kỹ năng nghề và thúc đẩy học tập suốt đời sẽ giúp người lao động thích ứng tốt hơn với những thay đổi của thị trường.
Đồng thời, cần nâng cao chất lượng dự báo cung - cầu lao động, phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động, Sàn giao dịch việc làm quốc gia và mạng lưới dịch vụ việc làm công. Đối với lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, cần chú trọng thị trường, ngành, nghề có yêu cầu kỹ năng và điều kiện làm việc tốt hơn, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động và kết nối hiệu quả với thị trường trong nước khi họ trở về. Việc thu hút, sử dụng chuyên gia, nhân tài và lao động kỹ thuật cao cũng cần gắn với chuyển giao công nghệ, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong nước.
Tiếp nối kế hoạch của Chính phủ, ngày 14/10/2026, Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 1246/QĐ-BNV về Kế hoạch thực hiện, phân công nhiệm vụ cho các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ, gắn với yêu cầu xác định rõ đầu mối chủ trì, phối hợp, sản phẩm đầu ra, thời hạn hoàn thành và trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Trong đó, Cục Việc làm giữ vai trò nòng cốt trong tham mưu, triển khai chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho lao động đô thị, nông thôn, thanh niên, lao động phi chính thức và người chịu tác động của chuyển đổi số, tự động hóa; đồng thời nâng cao hiệu quả kết nối cung - cầu và phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động.
Đáng chú ý, đơn vị được giao xây dựng bản đồ thiếu hụt lao động, kỹ năng theo ngành, nghề, vùng và địa phương, dự kiến hoàn thành trong quý IV năm 2027; chủ trì xây dựng bộ chỉ số giám sát chất lượng nguồn lao động, việc làm bền vững, đào tạo, thu nhập, bảo hiểm xã hội và mức độ hài lòng của người lao động, doanh nghiệp trong năm 2027. Những nhiệm vụ này có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận diện khoảng trống về nhân lực, cung cấp căn cứ cho hoạch định chính sách và theo dõi kết quả thực hiện.
Các đơn vị khác đảm nhận nhiệm vụ theo lĩnh vực phụ trách. Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội rà soát chính sách về hợp đồng lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội, góp phần thúc đẩy việc làm chính thức và bảo đảm quyền lợi người lao động. Cục Quản lý lao động ngoài nước tập trung nâng cao hiệu quả đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, đồng thời kết nối lao động sau khi về nước với thị trường trong nước. Vụ Công chức - Viên chức rà soát cơ chế thu hút, sử dụng chuyên gia, nhân tài và lao động kỹ thuật cao, gắn với chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực trong nước.
Việc phân công nhiệm vụ theo từng lĩnh vực, gắn với sản phẩm và thời hạn cụ thể, tạo cơ sở để nâng cao trách nhiệm tổ chức thực hiện, tăng cường phối hợp giữa các đơn vị và theo dõi tiến độ triển khai. Qua đó, các định hướng về phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng việc làm từng bước được chuyển thành những công việc cụ thể trong phạm vi quản lý của Bộ Nội vụ.
Hiệu quả thực hiện các chủ trương, kế hoạch cần được đánh giá bằng những chuyển biến thực chất: người lao động có thêm cơ hội tìm được việc làm phù hợp, thu nhập được cải thiện, kỹ năng đáp ứng yêu cầu công việc và quyền lợi được bảo đảm; doanh nghiệp tuyển dụng được nhân lực phù hợp với nhu cầu phát triển. Đây là những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng triển khai chính sách, bên cạnh tiến độ hoàn thành các nhiệm vụ được giao.
Từ Thông báo số 123-TB/VPTW đến Quyết định số 1538/QĐ-TTg và
Quyết định số 1246/QĐ-BNV, định hướng nâng cao chất lượng nguồn lao động, tạo
việc làm bền vững đang từng bước được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ, giải pháp
và trách nhiệm thực hiện. Triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ này sẽ góp
phần phát huy nguồn lực con người, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh
tranh của đất nước, đồng thời tạo thêm cơ hội để người lao động ổn định cuộc
sống và phát triển nghề nghiệp./.
Hiền Minh
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả