Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Giảm nghèo bền vững trong vùng dân tộc thiểu số ở Trung Quốc: thực tiễn, kinh nghiệm và những gợi mở

Ngày đăng: 28/04/2026   10:50
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Giảm nghèo bền vững trong vùng dân tộc thiểu số là một trong những thách thức lớn đối với các quốc gia đang phát triển. Trung Quốc đã triển khai một hệ thống chính sách giảm nghèo với quy mô lớn, đặc biệt trong các khu vực dân tộc thiểu số và đạt được những kết quả tích cực. Bài viết giới thiệu nội dung của chính sách giảm nghèo đa chiều cũng như thành tựu, kinh nghiệm trong thực hiện chính sách giảm nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số ở Trung Quốc trong thời kỳ cải cách, từ đó gợi mở những kinh nghiệm, khả năng vận dụng đối với Việt Nam.

Từ khóa: Đồng bào dân tộc thiểu số; giảm nghèo bền vững; Trung Quốc.

Abstract: Sustainable poverty reduction in ethnic minority areas is one of the major challenges facing developing countries. China has implemented a large-scale poverty reduction policy system, particularly in ethnic minority regions, and has achieved positive results. This article presents the content of China’s multidimensional poverty reduction policies, as well as the achievements and experiences gained from implementing poverty reduction policies in ethnic minority areas during the reform period. On that basis, it offers practical lessons and possible applications for Vietnam.

Keywords: Ethnic minorities; sustainable poverty reduction; China.

1. Đặt vấn đề

Giảm nghèo bền vững là yêu cầu mang tính chính trị, xã hội sâu sắc, đặc biệt đối với các quốc gia đa dân tộc. Tại nhiều nước đang phát triển, nghèo đói có xu hướng tập trung ở các khu vực dân tộc thiểu số, nơi hội tụ nhiều yếu tố bất lợi như điều kiện địa lý khó khăn, hạn chế về hạ tầng, giáo dục, y tế kém phát triển và khả năng tiếp cận thông tin và các nguồn lực phát triển của người dân ở mức thấp hơn so với mặt bằng chung.

Trong bối cảnh đó, Trung Quốc nổi lên như một trường hợp điển hình với thành tựu giảm nghèo gần tuyệt đối, đặc biệt trong giai đoạn cải cách và mở cửa. Trong bối cảnh toàn cầu, thành tựu giảm nghèo của Trung Quốc có ý nghĩa đặc biệt khi quốc gia này đã đưa khoảng 800 triệu người thoát nghèo trong bốn thập niên, đóng góp phần lớn vào mức giảm nghèo trên toàn thế giới. Sau năm 2020, Trung Quốc không chỉ duy trì thành quả xóa nghèo tuyệt đối mà còn chuyển sang giải quyết các dạng nghèo đa chiều và nghèo tương đối trong bối cảnh phát triển mới.

2. Khái quát về dân tộc thiểu số và các chính sách giảm nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số ở Trung Quốc trong thời kỳ cải cách

Ngoài dân tộc Hán với tư cách tộc người chiếm đa số, Trung Quốc hiện nay có 55 dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, hiện có khoảng hơn 640.000 người chưa xác định được thuộc dân tộc nào. Việc phân bố dân tộc thiểu số ở Trung Quốc có một số đặc điểm, như định cư rải rác, thiếu tập trung, sống xen lẫn với người dân tộc Hán. Tuy phân bố rải rác ở trên các vùng, các tỉnh và địa phương, nhưng các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc chủ yếu sống ở khu Nội Mông, Tân Cương, Ninh Hạ, Quảng Tây, Tây Tạng, Vân Nam, Quý Châu, Thanh Hải, Tứ Xuyên, Cam Túc, Liêu Ninh, Cát Lâm, Hồ Nam, Hồ Bắc, Hải Nam và một số tỉnh, khu tự trị khác. Các vùng có đông người dân tộc thiểu số sinh sống ở Trung Quốc đều là các vùng có tài nguyên phong phú về rừng tự nhiên, khoáng sản và du lịch.

 Theo số liệu thống kê, năm 2010, dân số gốc Hán của Trung Quốc là 1.225.932.641 người (chiếm 91,51%), dân tộc thiểu số là 113.792.211 người (chiếm 8,49%); còn tính đến ngày 01/11/2020, tổng số dân của các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc là 125.467.390 người (chiếm 8,89% dân số). So với kết quả điều tra năm 2010, dân số của các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc tăng thêm 11.675.179 người, tăng 10,26% (Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc, 2021).  

Trong quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn coi trọng công tác dân tộc, coi việc giải quyết tốt các vấn đề dân tộc và công tác dân tộc là vấn đề lớn liên quan sự ổn định của vùng biên giới, sự ổn định xã hội và sự thịnh vượng của quốc gia này. Vì vậy, trong quá trình cải cách, Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về công tác dân tộc, trong đó điển hình, như “Ý kiến ​​về việc giải quyết và xử lý các vấn đề dân tộc theo nguyên tắc pháp quyền và duy trì đoàn kết dân tộc” (năm 2017),  Ý kiến ​​về tăng cường đoàn kết dân tộc và củng cố ý thức cộng đồng dân tộc Trung Quốc” (năm 2019), “Ý kiến về tăng cường và cải thiện công tác dân tộc trong bối cảnh mới” (năm 2023)...

Trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin về giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, từ thực tiễn của Trung Quốc cũng như tiếp thu một số lý luận tích cực, tiến bộ về phát triển bền vững, Đảng Cộng sản Trung Quốc nhấn mạnh việc giải quyết vấn đề dân tộc theo các quan điểm chỉ đạo cơ bản, gồm: (i) Kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc; (ii) Kiên trì con đường chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc; (iii) Kiên trì duy trì sự thống nhất Tổ quốc; (iv) Kiên trì sự bình đẳng giữa các dân tộc; (v) Kiên trì và hoàn thiện chế độ tự trị vùng dân tộc; (vi) Kiên trì cùng phấn đấu, đoàn kết, cùng phát triển phồn vinh giữa các dân tộc và duy trì nền tảng tư tưởng của cộng đồng dân tộc Trung Hoa; (vi) Kiên trì nguyên tắc pháp quyền (Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc vụ viện Trung Quốc, 2023). Về con đường phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Đảng Cộng sản Trung Quốc nhấn mạnh yêu cầu phát triển toàn diện với phương châm: “lấy nâng cao chất lượng dịch vụ công cơ bản và cải thiện dân sinh làm nhiệm vụ hàng đầu, lấy xóa đói giảm nghèo làm trọng điểm, lấy phát triển giáo dục, giải quyết việc làm, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng và bảo vệ môi trường sinh thái làm điểm tập trung, lấy thúc đẩy sự lưu động các yếu tố của thị trường và tăng cường sự giao lưu, trao đổi, hội nhập giữa các dân tộc làm con đường” (Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc vụ viện Trung Quốc, 2023).

Công tác xóa đói giảm nghèo ở các vùng dân tộc thiểu số của Trung Quốc gắn liền với quá trình triển khai chiến lược giảm nghèo chung của quốc gia. Qua nhiều giai đoạn phát triển, Trung Quốc từng bước hình thành một hệ thống chính sách giảm nghèo có định hướng rõ ràng, mang tính hệ thống và ngày càng phù hợp với đặc điểm của các vùng dân tộc thiểu số.

Thứ nhất, giai đoạn từ năm 1978 đến những năm 1980: cải cách thể chế thúc đẩy giảm nghèo. Trong thời kỳ đầu cải cách mở cửa, việc triển khai chế độ khoán hộ trong nông nghiệp đã tạo ra bước chuyển căn bản về cơ chế quản lý đất đai, gắn quyền lợi kinh tế trực tiếp với người lao động. Cơ chế này góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng nông thôn, qua đó cải thiện đáng kể đời sống của người dân, bao gồm cả khu vực dân tộc thiểu số. Tuy chưa hình thành chính sách giảm nghèo chuyên biệt, nhưng giai đoạn này đặt nền tảng quan trọng cho giảm nghèo thông qua cải cách kinh tế và thể chế.

Thứ hai, giai đoạn từ giữa thập niên 1980 đến cuối những năm 2000: hình thành các chương trình giảm nghèo chuyên biệt. Trung Quốc bắt đầu triển khai các chính sách giảm nghèo có mục tiêu rõ ràng, tiêu biểu là “Kế hoạch xóa đói giảm nghèo 8 - 7” (1994), trong đó các vùng dân tộc thiểu số được xác định là trọng điểm. Nhà nước tăng cường phân bổ nguồn lực tài chính từ trung ương cho các khu tự trị và các tỉnh phía Tây, đồng thời thiết lập các quỹ chuyên biệt như Quỹ phát triển dân tộc thiểu số. Trong giai đoạn 1994 - 2000, khoảng 38,4% tổng vốn giảm nghèo quốc gia được dành cho các khu vực này. Bên cạnh đó, cơ chế hỗ trợ đối tác vùng miền được triển khai, huy động các địa phương phát triển hỗ trợ các vùng nghèo, qua đó mở rộng nguồn lực và tăng cường liên kết phát triển.

Thứ ba, giai đoạn 2001 - 2010: tập trung hỗ trợ các vùng đặc biệt khó khăn. Chính sách giảm nghèo chuyển sang hướng trọng điểm, tập trung vào các khu vực có mức độ nghèo sâu, chủ yếu là vùng dân tộc thiểu số ở miền Trung và miền Tây. Thông qua “Cương yếu phát triển và xóa đói giảm nghèo nông thôn (2001 - 2010)”, Trung Quốc tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng, giáo dục và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nhiều chính sách quan trọng được triển khai như miễn thuế nông nghiệp, chính sách “hai miễn một trợ cấp” trong giáo dục, và giảm yêu cầu vốn đối ứng địa phương trong các dự án công ích. Các chính sách này góp phần cải thiện điều kiện sống, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo nền tảng cho giảm nghèo bền vững vùng dân tộc thiểu số.

Thứ tư, giai đoạn từ năm 2011 đến nay: giảm nghèo chính xác gắn với chấn hưng nông thôn. Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh giảm nghèo với cách tiếp cận “giảm nghèo chính xác”, xác định rõ đối tượng, nguyên nhân và giải pháp phù hợp cho từng địa bàn. Văn kiện “Cương yếu phát triển và xóa đói giảm nghèo nông thôn (2011 - 2020)” xác định 14 khu vực đặc biệt khó khăn là trọng điểm, phần lớn thuộc vùng dân tộc thiểu số. Đến năm 2020, Trung Quốc hoàn thành mục tiêu xóa nghèo tuyệt đối, với gần 100 triệu người thoát nghèo; toàn bộ các huyện nghèo và các dân tộc thiểu số có quy mô dân số nhỏ đều thoát nghèo. Sau đó, nước này bước vào giai đoạn chuyển tiếp, tập trung củng cố thành quả giảm nghèo, ngăn ngừa tái nghèo và gắn kết với chiến lược chấn hưng nông thôn. Hệ thống hạ tầng, dịch vụ xã hội cơ bản và điều kiện sống tại các vùng dân tộc thiểu số được cải thiện rõ rệt, tạo nền tảng cho phát triển lâu dài. Nếu năm 2012, dân số nghèo ở 5 khu tự trị Nội Mông, Tân Cương, Quảng Tây, Ninh Hạ và Tây Tạng và 3 tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số là 31,21 triệu người, với tỷ lệ hộ nghèo chiếm 20,8%; thì đến năm 2020, đồng bào dân tộc ở tất cả các địa phương nói trên đều đã thoát nghèo.

3. Nội dung chủ yếu của chính sách giảm nghèo bền vững trong vùng dân tộc thiểu số ở Trung Quốc trong thời kỳ cải cách

Thứ nhất, chính sách hỗ trợ tài chính và tài chính - tín dụng. Trung Quốc thiết lập cơ chế phân bổ nguồn lực mang tính ưu tiên rõ rệt đối với các vùng dân tộc thiểu số thông qua hệ thống chuyển giao tài chính từ trung ương. Sau cải cách phân chia nguồn thu giữa trung ương và địa phương, các khoản chuyển giao mang tính chính sách được thiết kế riêng cho 5 khu tự trị và các châu tự trị dân tộc, nhằm bù đắp chênh lệch phát triển. Năm 1998, chuyển giao tài chính từ trung ương cho các khu vực này đạt gần 2,9 tỷ Nhân dân tệ, chiếm 48% tổng chuyển giao của cả nước. Đồng thời, nhà nước thành lập các quỹ chuyên biệt như Quỹ phát triển dân tộc thiểu số và Quỹ bảo đảm lương thực và đời sống, nhằm giải quyết các khó khăn đặc thù. Bên cạnh đó, chính sách ưu đãi thuế được áp dụng rộng rãi tại khu vực miền Tây và vùng dân tộc thiểu số, bao gồm ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các ngành nghề được khuyến khích và miễn, giảm phần thuế thuộc nguồn thu địa phương. Đồng thời, nhà nước mở rộng tín dụng ưu đãi, đơn giản hóa thủ tục vay vốn và ưu tiên phân bổ vốn cho các ngành kinh tế đặc trưng và hạ tầng thiết yếu, qua đó tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng và giảm nghèo.

Thứ hai, chính sách hỗ trợ phát triển ngành nghề. Trung Quốc chú trọng khai thác lợi thế so sánh của từng địa phương, thúc đẩy phát triển các ngành nghề đặc thù gắn với điều kiện tự nhiên và văn hóa. Các chương trình như “mỗi làng một sản phẩm” và “Internet + giảm nghèo” được triển khai rộng rãi, kết hợp giữa sản xuất truyền thống với thương mại điện tử và kinh tế số. Nhiều mô hình hiệu quả đã được hình thành, như phát triển chăn nuôi, thủ công mỹ nghệ, du lịch nông thôn và năng lượng tái tạo. Điển hình, huyện tự trị Lạp Hộ Lan Thương (Vân Nam) đã xây dựng chuỗi giá trị ngành chè, qua đó giúp cộng đồng dân tộc thoát nghèo bền vững. Đáng chú ý, Trung Quốc kết hợp chặt chẽ giữa điều chỉnh cơ cấu ngành nghề với giảm nghèo sinh thái, thông qua các chương trình như bảo vệ rừng thượng nguồn sông Trường Giang, quản lý sinh thái và chuyển đất canh tác sang trồng rừng. Tại huyện Mậu (châu Aba), việc giao đất, giao rừng cho người dân quản lý sau cải tạo không chỉ tạo việc làm mà còn bảo đảm sinh kế lâu dài, hình thành mô hình “lợi ích kép” giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế. Cách làm này tạo ra lợi ích kép cho nhà nước và người dân. Bên cạnh đó, chương trình chuyển đất canh tác sang trồng rừng cũng bảo đảm nguồn trợ cấp được chi trả kịp thời và trong thời gian đủ dài, nhằm ngăn chặn nguy cơ tái nghèo.

Thứ ba, chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng. Trung Quốc coi đầu tư hạ tầng là điều kiện nền tảng để phá vỡ rào cản phát triển ở vùng dân tộc thiểu số. Ngay từ giai đoạn đầu, nhiều công trình trọng điểm đã được triển khai tại các khu vực này, như khu công nghiệp thép Bao Đầu hay nhà máy thủy điện Thanh Đồng Hiệp. Hệ thống giao thông liên vùng được mở rộng với các tuyến đường bộ và đường sắt quan trọng như Tứ Xuyên - Tây Tạng, Thanh Hải - Tây Tạng, Bao Đầu - Lan Châu, Lan Châu - Urumqi. Đặc biệt, từ cuối thập niên 1990, nhà nước ưu tiên phân bổ vốn cho miền Trung và miền Tây; riêng năm 1998, khu vực này nhận 62% tổng vốn đầu tư tài chính tăng thêm, với tốc độ tăng đầu tư tài sản cố định cao hơn đáng kể so với miền Đông. Trong giai đoạn giảm nghèo quyết liệt, hàng loạt dự án hạ tầng cơ bản được triển khai như đường giao thông đến thôn bản, cấp nước sạch và điện nông thôn. Đến năm 2020, hầu hết các thôn có điều kiện đều được kết nối giao thông, vấn đề nước sạch cơ bản được giải quyết, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ tư, chính sách bảo đảm giáo dục và y tế với nội dung cụ thể. Trung Quốc xác định phát triển vốn con người là giải pháp căn bản để giảm nghèo bền vững. Trong lĩnh vực giáo dục, chính sách “hai miễn một trợ cấp” được triển khai tại các huyện nghèo, bao gồm miễn học phí, miễn sách giáo khoa và hỗ trợ sinh hoạt. Đồng thời, nhà nước tăng cường phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh, xây dựng trường nội trú và hỗ trợ chi phí học tập cho học sinh vùng khó khăn. Cách tiếp cận này hướng tới mục tiêu ngăn chặn sự truyền nghèo qua nhiều thế hệ. Trong lĩnh vực y tế, hệ thống dịch vụ xã hội cơ bản được mở rộng, với việc tăng đầu tư cho y tế cơ sở và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân vùng nghèo. Đến năm 2020, người dân tại các khu vực này đã tiếp cận tương đối bình đẳng hơn với dịch vụ y tế cơ bản, đồng thời các chương trình phòng, chống bệnh đặc hữu và kế hoạch hóa gia đình góp phần cải thiện chất lượng dân số.

Thứ năm, chính sách di dời giảm nghèo và hỗ trợ việc làm. Đối với các khu vực có điều kiện tự nhiên đặc biệt khó khăn, Trung Quốc triển khai chính sách di dời dân cư theo nguyên tắc tự nguyện và có tổ chức, nhằm tái phân bố dân cư gắn với cơ hội phát triển mới. Sau di dời, nhà nước chú trọng hỗ trợ sinh kế thông qua phát triển ngành nghề, đào tạo kỹ năng và tạo việc làm tại các khu tái định cư. Giai đoạn 2021-2025, ngân sách trung ương mỗi năm bố trí khoảng 4,8 tỷ Nhân dân tệ để hỗ trợ phát triển kinh tế tại các khu vực này; tỷ lệ việc làm của lao động sau di dời đạt khoảng 96%. Đồng thời, các chương trình đào tạo nghề, việc làm công ích và phát triển xưởng sản xuất giảm nghèo được triển khai rộng rãi. Riêng năm 2024, hơn 3,32 triệu người thu nhập thấp được tạo việc làm thông qua các dự án này. Bên cạnh đó, chính sách khuyến khích di chuyển lao động giữa nông thôn và thành thị góp phần mở rộng cơ hội việc làm và tăng thu nhập.

Thứ sáu, chính sách huy động sự tham gia của toàn xã hội và sự hỗ trợ từ các đối tác. Trung Quốc xây dựng cơ chế huy động tổng thể với mô hình “ba trụ cột”: giảm nghèo chuyên biệt, giảm nghèo theo ngành và giảm nghèo xã hội. Nhà nước phát huy vai trò của toàn bộ hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và cả nguồn lực quốc tế trong công tác giảm nghèo. Đồng thời, cơ chế hợp tác giữa các vùng được đẩy mạnh, trong đó các địa phương phát triển hỗ trợ các vùng dân tộc thiểu số nghèo thông qua chuyển giao vốn, công nghệ và nhân lực. Nhà nước cũng thiết lập các quỹ hỗ trợ luân chuyển nhân tài, khuyến khích nguồn nhân lực chất lượng cao đến làm việc tại các khu vực khó khăn, qua đó tạo động lực phát triển dài hạn. Chính sách xóa đói giảm nghèo ở các vùng dân tộc thiểu số của Trung Quốc bao gồm nhiều lĩnh vực như hỗ trợ tài chính, phát triển ngành nghề, xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo đảm giáo dục và y tế, giảm nghèo sinh thái, v.v. Qua đó, hình thành một hệ thống chính sách toàn diện và đa tầng nấc. Sau năm 2020, trọng tâm chính sách giảm nghèo của Trung Quốc đã có sự chuyển dịch đáng kể từ xóa nghèo tuyệt đối sang quản lý nghèo đa chiều và ngăn ngừa tái nghèo.

Việc xây dựng chính sách giảm nghèo đa tầng nấc gắn với mô hình điều phối tập trung quy mô lớn, trong đó chính phủ trung ương giữ vai trò chi phối mạnh mẽ trong phân bổ nguồn lực, thiết kế chính sách và kiểm soát thực thi, đồng thời triển khai cách tiếp cận “giảm nghèo chính xác” dựa trên hệ thống dữ liệu chi tiết đến từng hộ gia đình đã giúp Trung Quốc đạt được kết quả giảm nghèo ấn tượng. Theo Ngân hàng Thế giới, tính theo chuẩn nghèo quốc tế mới (PPP 2021), tỷ lệ nghèo của Trung Quốc gần như bằng 0 vào năm 2024, trong khi hàng chục triệu người tiếp tục được nâng mức sống vượt các ngưỡng nghèo cao hơn (World Bank, 2024). Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu vẫn còn khoảng 1,1 tỷ người sống trong nghèo đa chiều, trong đó phần lớn thuộc các quốc gia thu nhập trung bình (UNDP, 2025), thách thức đặt ra đối với Trung Quốc và các quốc gia không còn là loại bỏ tình trạng nghèo đói mà là quản trị hiệu quả các dạng nghèo đa chiều và bất bình đẳng xã hội. Điều này hàm ý rằng, giảm nghèo bền vững trong giai đoạn hiện nay cần được tiếp cận như một quá trình phát triển bao trùm.

4. Một số gợi mở đối với hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam

Từ sau khi thực hiện cải cách và mở cửa, Trung Quốc đã tìm tòi và hình thành nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong công tác giảm nghèo ở các khu vực dân tộc thiểu số. Có thể kể đến một số kinh nghiệm chủ yếu sau:

Thứ nhất, kiên trì vai trò chủ đạo của chính phủ, hình thành cơ chế giảm nghèo có sự tham gia của nhiều bên: Chính phủ Trung Quốc luôn giữ vai trò chủ đạo trong công tác giảm nghèo tại các khu vực dân tộc thiểu số, thông qua việc xây dựng các quy hoạch chuyên đề và tăng cường đầu tư tài chính nhằm bảo đảm vững chắc cho công tác giảm nghèo. Mỗi chính sách được ban hành đều tập trung chính xác vào vấn đề nghèo đói ở các khu vực dân tộc thiểu số. Đồng thời, chính phủ cũng tích cực huy động các lực lượng xã hội tham gia, hình thành cục diện giảm nghèo tổng thể gồm ba trụ cột: giảm nghèo chuyên biệt, giảm nghèo theo ngành và giảm nghèo xã hội. Ví dụ, các khu vực phát triển ở miền Đông thực hiện chương trình hỗ trợ đối ứng đối với các khu vực dân tộc thiểu số nghèo, không chỉ mang lại nguồn vốn và kỹ thuật mà còn thúc đẩy giao lưu, hợp tác giữa các vùng, tạo sự kết hợp chính phủ - thị trường - xã hội thúc đẩy giảm nghèo.

Thứ hai, dựa trên đặc trưng của mỗi dân tộc để thực hiện chính sách hỗ trợ ngành nghề mang tính đặc thù: Các khu vực dân tộc thiểu số thường sở hữu nguồn tài nguyên tự nhiên và văn hóa độc đáo. Chính phủ Trung Quốc đã tận dụng lợi thế này để thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển ngành nghề mang tính khác biệt. Trong phát triển kinh tế, chú trọng xây dựng các mô hình “mỗi làng một sản phẩm”, “mỗi xã một ngành nghề”. Chẳng hạn, huyện tự trị dân tộc Lahu Lan Thương (tỉnh Vân Nam) dựa vào ngành chè để xây dựng chuỗi công nghiệp hoàn chỉnh, giúp toàn bộ cộng đồng dân tộc thoát nghèo; châu tự trị dân tộc Miêu và Đồng Kiềm Đông Nam (tỉnh Quý Châu) phát triển du lịch sinh thái dựa vào tài nguyên sinh thái, qua đó tăng thu nhập cho người nghèo địa phương. Đồng thời, Trung Quốc kết hợp giảm nghèo sinh thái với phát triển ngành nghề, khi triển khai các dự án như bảo vệ rừng tự nhiên, hoàn trả đất nông nghiệp thành rừng… vừa tạo việc làm vừa đạt được mục tiêu bảo vệ môi trường và xóa đói giảm nghèo.

Thứ ba, tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng, tháo gỡ nút thắt phát triển: Cơ sở hạ tầng lạc hậu là một yếu tố quan trọng hạn chế sự phát triển của các khu vực dân tộc thiểu số. Chính phủ Trung Quốc liên tục gia tăng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại các khu vực này. Từ thời kỳ Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, với các công trình như khu công nghiệp thép Bao Đầunhà máy thủy điện Thanh Đồng Hiệp, cho đến giai đoạn xóa đói giảm nghèo quyết liệt, triển khai các dự án như đường giao thông nông thôn, đảm bảo nước uống an toàn và cung cấp điện cho nông thôn…, điều kiện sản xuất và sinh hoạt của người dân đã được cải thiện đáng kể. Đến năm 2020, tất cả các vấn đề về điện, đường, trường, trạm ở vùng nghèo được giải quyết, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế ở vùng dân tộc thiểu số.

Thứ tư, chú trọng giáo dục và bảo đảm y tế, ngăn chặn sự truyền nghèo qua các thế hệ: Giáo dục và y tế là những con đường quan trọng để ngăn chặn sự truyền nghèo từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chính phủ Trung Quốc thực hiện chính sách “hai miễn một trợ cấp” trong giáo dục bắt buộc ở nông thôn tại các khu vực dân tộc thiểu số, xây dựng tốt hệ thống trường nội trú, nâng cao chất lượng dân số. Đồng thời, tăng đầu tư cho bảo hiểm y tế, hoàn thiện hệ thống dịch vụ y tế cơ sở, thực hiện chính sách kết hợp phòng, chống bệnh đặc hữu với phát triển giảm nghèo, qua đó giảm thiểu và ngăn ngừa nguy cơ nghèo do bệnh tật hoặc tái nghèo vì bệnh tật. Thông qua giảm nghèo bằng giáo dục, Trung Quốc đã đào tạo được một đội ngũ nhân lực bản địa tại các khu vực dân tộc thiểu số, cung cấp nguồn lực chất lượng cao cho địa phương.

Từ thực tiễn, kinh nghiệm giảm nghèo bền vững trong vùng dân tộc thiểu số ở Trung Quốc có thể rút ra một số gợi mở sau:

Một là, kiên trì tư tưởng phát triển lấy người dân làm trung tâm là nguyên tắc cơ bản của công tác giảm nghèo: Mục tiêu cuối cùng của giảm nghèo là giúp người dân có cuộc sống hạnh phúc và tốt đẹp. Trong công tác giảm nghèo tại các khu vực dân tộc thiểu số, chính phủ Trung Quốc luôn đặt bảo đảm và cải thiện đời sống người dân ở vị trí nổi bật, giải quyết thiết thực những vấn đề lợi ích mà người dân quan tâm nhất, trực tiếp nhất và thực tế nhất. Điều này cho thấy trong tương lai, công tác giảm nghèo cần tiếp tục lấy người dân làm trung tâm, lắng nghe tiếng nói của người dân, đáp ứng kỳ vọng của họ, để thành quả giảm nghèo mang lại lợi ích nhiều hơn và công bằng hơn cho toàn thể người dân.

Hai là, thực hiện chính sách chính xác, đúng đắn là chìa khóa nâng cao hiệu quả giảm nghèo: Vấn đề nghèo đói ở các khu vực dân tộc thiểu số có tính phức tạp và đa dạng, với nguyên nhân và mức độ nghèo khác nhau giữa các khu vực và các dân tộc. Chính phủ Trung Quốc chú trọng xác định chính xác đối tượng và áp dụng chính sách phù hợp, xây dựng các phương án giảm nghèo mang tính cá nhân hóa theo tình hình thực tế của từng khu vực, bảo đảm nguồn lực giảm nghèo được sử dụng đúng chỗ. Điều này cho thấy công tác giảm nghèo không thể áp dụng một mô hình chung cho tất cả, mà cần điều tra nghiên cứu kỹ lưỡng, xác định đúng căn nguyên của nghèo đói và áp dụng các biện pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả.

Ba là, khơi dậy động lực nội sinh là yếu tố cốt lõi để thoát nghèo bền vững: Sự hỗ trợ từ bên ngoài chỉ có thể giải quyết khó khăn tạm thời. Muốn đạt được thoát nghèo bền vững và phát triển lâu dài, cần khơi dậy động lực nội sinh của các khu vực dân tộc thiểu số. Chính phủ Trung Quốc chú trọng nâng cao năng lực tự phát triển của người dân, thông qua đào tạo kỹ năng, hỗ trợ phát triển ngành nghề đặc trưng, giúp người dân chuyển từ tư duy “được yêu cầu thoát nghèo” sang “tự nguyện thoát nghèo”. Điều này cho thấy trong tương lai cần chú trọng hơn nữa việc khơi dậy tinh thần khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo của người dân, nâng cao năng lực phát triển tự thân.

Bốn là, tái cấu trúc chính sách sinh kế theo hướng gắn với thị trường và chuỗi giá trị: Một trong những điểm nổi bật của Trung Quốc là phát triển các ngành nghề đặc thù dựa trên lợi thế địa phương và kết nối chặt chẽ với thị trường thông qua hạ tầng và thương mại điện tử. Vì vậy, cần vượt qua mô hình hỗ trợ sản xuất nhỏ lẻ, chuyển sang phát triển sinh kế theo chuỗi giá trị, tăng cường vai trò của doanh nghiệp và hợp tác xã, qua đó tạo ra động lực nội sinh cho người dân thoát nghèo bền vững.

Năm là, phát triển nguồn nhân lực và ngăn chặn nghèo liên thế hệ: Kinh nghiệm từ Trung Quốc cho thấy đầu tư vào giáo dục và y tế có tác động lâu dài hơn so với hỗ trợ thu nhập trực tiếp. Do đó, cần tiếp tục mở rộng tiếp cận giáo dục chất lượng, tăng cường đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cơ sở tại vùng dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, tăng cường đoàn kết dân tộc là bảo đảm quan trọng cho công tác giảm nghèo. Chính phủ Trung Quốc luôn kiên trì nguyên tắc các dân tộc cùng đoàn kết phấn đấu và cùng phát triển phồn vinh, thông qua nhiều chính sách ưu đãi nhằm thúc đẩy giao lưu và hợp tác giữa các dân tộc, tăng cường sự gắn kết và sức hướng tâm của cộng đồng các dân tộc. Điều này cho thấy trong công tác giảm nghèo cần phát huy lợi thế của đoàn kết dân tộc, tập hợp sức mạnh của mọi dân tộc để cùng giành thắng lợi trong cuộc chiến xóa đói giảm nghèo, hướng tới thịnh vượng chung.

Trong giai đoạn phát triển mới, trọng tâm không còn là xóa nghèo tuyệt đối mà là thiết lập cơ chế phát triển bao trùm, bảo đảm không tái nghèo và không phát sinh nghèo mới. Điều đó phản ánh bước chuyển căn bản từ “giảm nghèo” sang “quản trị phát triển”, nơi các vùng dân tộc thiểu số từng bước hội nhập vào tiến trình hiện đại hóa và phát triển bền vững./.

-----------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc (2021), Công báo Tổng điều tra dân số toàn quốc lần thứ bảy, Bắc Kinh, ngày 11/5/2021.

2. Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc vụ viện Trung Quốc (2023), Ý kiến về tăng cường và cải thiện công tác dân tộc trong tình hình mới,  https://www.ynml.gov.cn/mpz/115129.news.detail.dhtml?news_id=1462488.

3. World Bank (2022), Four decades of poverty reduction in China: Drivers, insights for the world, and the way ahead. Washington.

4. World Bank (2024), China economic update: December 2024, Washington.

5. United Nations Development Programme (2025), Global multidimensional poverty index 2025: Poverty amid conflict, New York.


TS Lâm Thị Kho - PGS. TS Nguyễn Trọng Bình, Học viện Chính trị khu vực IV

Bài viết cùng tác giả