Ảnh minh họa.
Cơ sở pháp lý và yêu cầu đặt ra
Thông tư số 15/2026/TT-BNV được ban hành căn cứ Nghị định số 204/2004/NĐ-CP của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; căn cứ Nghị định số 25/2025/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ; và theo đề nghị của Cục trưởng Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội.
Chế độ phụ cấp khu vực được thiết kế nhằm bù đắp một phần cho cán bộ, công chức, viên chức và các đối tượng hưởng lương làm việc ở những địa bàn xa xôi, hẻo lánh, khí hậu khắc nghiệt, điều kiện sinh hoạt khó khăn. Sau gần hai thập kỷ thực hiện, khung pháp lý gốc tại Thông tư liên tịch số 11/2005 đã phát sinh nhiều điểm không còn tương thích: hệ thống văn bản viện dẫn thay đổi, tên gọi cơ quan quản lý nhà nước được kiện toàn, và đặc biệt là mô hình chính quyền địa phương chuyển sang hai cấp cùng việc sắp xếp lại đơn vị hành chính trên cả nước. Thông tư số 15/2026/TT-BNV được ban hành để xử lý đồng bộ các vấn đề đó, bảo đảm chế độ được thực hiện thống nhất, đúng đối tượng và đúng địa bàn.
Chuẩn hóa đối tượng và thuật ngữ áp dụng
Nhóm nội dung thứ nhất tập trung làm rõ và thu gọn phạm vi đối tượng hưởng phụ cấp khu vực. Thông tư sửa đổi, bổ sung khoản 1 Mục I theo hướng xác định rõ đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức và lao động hợp đồng đã được xếp lương theo bảng lương do Nhà nước quy định, làm việc trong các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước được cấp có thẩm quyền quyết định thành lập.
Cùng với đó, khoản 5 Mục I được sửa đổi, bổ sung để bao quát nhóm đối tượng thuộc lực lượng vũ trang, gồm sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, chiến sĩ, cán bộ, công chức, viên chức, công nhân trong biên chế đang công tác trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân. Đồng thời, Thông tư bãi bỏ khoản 2 và khoản 6 Mục I, loại bỏ những nhóm đối tượng không còn phù hợp với hệ thống chính sách tiền lương hiện hành.
Về thuật ngữ, Thông tư thực hiện một loạt thay thế mang tính kỹ thuật nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với việc áp dụng. Cụm từ "mức lương tối thiểu chung" tại điểm a khoản 2 Mục II được thay bằng “mức lương cơ sở”, là căn cứ tính phụ cấp theo đúng thuật ngữ pháp lý đang sử dụng. Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay bằng “xã, phường, đặc khu” trong toàn bộ nội dung, phản ánh cấu trúc đơn vị hành chính cấp xã sau sắp xếp. Cụm từ chỉ các cơ quan chủ trì trước đây được thay bằng “Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và Bộ Dân tộc và Tôn giáo”, cập nhật đúng tên và chức năng của các bộ, ngành quản lý sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy.
Phân định lại thẩm quyền đề nghị áp dụng phụ cấp
Điểm đáng chú ý nhất về mặt tổ chức thực hiện là việc phân định lại thẩm quyền đề nghị áp dụng phụ cấp khu vực. Trước đây, quy trình đi qua nhiều nấc: các cơ quan, đơn vị đóng tại địa phương gửi văn bản đến Ủy ban nhân dân cấp huyện, sau đó Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm đề nghị. Thông tư số 15/2026/TT-BNV thay thế toàn bộ trình tự này tại điểm a khoản 1 Mục III bằng một đầu mối duy nhất: Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu có văn bản đề nghị.
Sự điều chỉnh này đáp ứng yêu cầu vận hành của mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, khi cấp huyện không còn là một cấp chính quyền trung gian. Việc giao thẩm quyền đề nghị cho chính quyền cấp xã giúp rút ngắn quy trình, gắn trách nhiệm với cấp gần dân và sát địa bàn nhất, đồng thời bảo đảm việc rà soát, đề xuất địa bàn hưởng phụ cấp được thực hiện kịp thời, chính xác theo điều kiện thực tế của từng đơn vị hành chính.
Loại bỏ các nội dung không còn phù hợp
Thông tư cũng rà soát, cắt bỏ những quy định đã hết hiệu lực hoặc không còn đối tượng điều chỉnh. Tại phần căn cứ ban hành của Thông tư liên tịch số 11/2005, cụm từ viện dẫn Nghị định số 205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 về hệ thống thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp lương trong các công ty nhà nước được bãi bỏ.
Đồng thời, cụm từ quy định việc tính phụ cấp khu vực vào đơn giá tiền lương và hạch toán vào giá thành hoặc chi phí kinh doanh đối với các công ty nhà nước tại điểm a khoản 4 Mục II được loại bỏ; cụm từ “công ty nhà nước” cũng được bỏ trong toàn bộ nội dung. Cùng với việc thay thế “Phụ lục mức phụ cấp khu vực của các địa phương, đơn vị” bằng “Phụ lục danh sách các địa bàn áp dụng phụ cấp khu vực”, các điều chỉnh này giúp văn bản gọn về phạm vi, tập trung đúng vào khu vực nhà nước và lực lượng vũ trang, tránh chồng lấn với các quy định chuyên ngành về tiền lương trong doanh nghiệp.
Ban hành mới danh mục địa bàn áp dụng phụ cấp khu vực
Cùng với Thông tư, Bộ Nội vụ ban hành Phụ lục danh sách các địa bàn áp dụng phụ cấp khu vực, thay thế phụ lục cũ. Đây là nội dung có tác động trực tiếp và rộng nhất đến quyền lợi người hưởng. Danh mục được xây dựng theo đơn vị hành chính mới sau sắp xếp, liệt kê chi tiết đến từng xã, phường, đặc khu và một số đơn vị đặc thù, gắn với mức hệ số phụ cấp tương ứng.
Hệ số phụ cấp khu vực được phân theo bảy mức, từ 0,1 đến 1,0, tính trên mức lương cơ sở. Danh mục trải rộng trên 32 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cùng nhóm đơn vị thuộc Bộ Công an và nhóm các đơn vị khác, tập trung ở địa bàn miền núi, biên giới, vùng cao và hải đảo. Mức cao nhất - hệ số 1,0, được áp dụng cho đặc khu Hoàng Sa (thành phố Đà Nẵng), đặc khu Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa) và vùng biển Việt Nam đối với lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ trên biển thuộc Bộ Quốc phòng, phản ánh mức độ khó khăn, đặc thù cao nhất của các địa bàn này.
Việc ban hành danh mục theo đơn vị hành chính hai cấp không chỉ cập nhật về tên gọi mà còn là cơ sở pháp lý để chính quyền cấp xã, các cơ quan chi trả lương và người hưởng cùng đối chiếu, xác định rõ ràng địa bàn và hệ số áp dụng, hạn chế vướng mắc trong tổ chức thực hiện.
Hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp
Thông tư số 15/2026/TT-BNV có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Nhằm bảo đảm quyền lợi cho người hưởng, Thông tư quy định điều khoản chuyển tiếp: trường hợp các xã, phường, đặc khu có tên trong Phụ lục nhưng chưa được áp dụng phụ cấp khu vực thì được tính hưởng kể từ ngày 01/01/2026. Quy định truy hưởng này thể hiện nguyên tắc không để người lao động ở địa bàn khó khăn bị thiệt thòi trong giai đoạn chuyển đổi mô hình tổ chức.
Thông tư đồng thời bãi bỏ Thông tư số 23/2025/TT-BNV ngày 24/12/2025 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư liên tịch số 11/2005, bảo đảm chỉ còn một văn bản điều chỉnh thống nhất. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành./.
Khánh Ngân
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả