![]()
Đặt vấn đề
Trong giai đoạn phát triển mới, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy và phương thức hoạt động. Việc nắm bắt kịp thời, khách quan và xử lý hiệu quả tâm tư, nguyện vọng, ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân đóng vai trò quyết định trong việc tạo đồng thuận xã hội.
Tại tỉnh Phú Thọ - địa bàn được hình thành từ việc hợp nhất ba tỉnh (Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Phú Thọ trước ngày 01/3/2025) theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội với quy mô diện tích lớn, dân số hơn 4 triệu người và vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp đã triển khai hơn một năm, công tác tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc các cấp đứng trước những thuận lợi, thời cơ và thách thức đan xen. Nghiên cứu thực tiễn công tác này tại tỉnh Phú Thọ mang lại những bài học quý có tính khái quát cao cho toàn hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, từ Trung ương đến địa phương, cơ sở.
1. Bối cảnh mới và cơ sở chính trị, pháp lý, thực tiễn đối với công tác tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Từ quý II năm 2025, hệ thống chính trị cả nước và chính quyền 3 cấp ở nước ta vận hành trong bối cảnh các quy định mới có hiệu lực thi hành đã có tác động mạnh mẽ đến công tác tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:
Thứ nhất, về thể chế: Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2025 (Luật số 97/2025/QH15) đã khẳng định rõ nét hơn về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nói chung và trong công tác tập hợp, phản ánh ý kiến, kiến nghị của Nhân dân nói riêng.
Thứ hai, về mô hình tổ chức: mô hình chính quyền địa phương 02 cấp (cấp tỉnh và cấp xã) chính thức vận hành từ ngày 01/7/2025 trên phạm vi cả nước, đồng thời kết thúc hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị (đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội) ở cấp huyện đòi hỏi bộ máy tổ chức đảng, chính quyền, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp cơ sở phải tinh gọn, nhưng gánh vác khối lượng nhiệm vụ tăng mạnh (nhiều xã có số lượng nhiệm vụ tăng gấp 3 đến 4 lần).
Thứ ba, về ứng dụng công nghệ: việc triển khai thực hiện Chiến lược chuyển đổi số quốc gia, xây dựng và vận hành các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cùng với triển khai vận hành nền tảng “Mặt trận số 24/7” và các hình thức tiếp nhận trực tuyến đã mở ra không gian rộng lớn để người dân phản ánh ý kiến trực tiếp đến hệ thống tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, nhất là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cấp cơ sở (cấp xã).
Phát biểu chỉ đạo tại Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lần thứ nhất (từ ngày 22 đến ngày 23/9/2025), Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương là “…củng cố, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc “không ai bị bỏ lại phía sau”. Thiết kế mạng lưới đại diện và tham gia đa tầng, đa kênh cho công nhân, nông dân thế hệ mới, thanh niên trên nền tảng số, phụ nữ, người yếu thế, đồng bào tôn giáo, dân tộc; thúc đẩy đoàn kết tôn giáo; đoàn kết dân tộc; các dân tộc anh em đều là “con Rồng cháu Tiên”, anh em cùng một mẹ cha. Triển khai “Cổng Mặt trận số” tiếp nhận kiến nghị 24/7; Tổ chức “Tháng nghe dân nói” ở tất cả các cấp, các vùng miền; thiết lập bản đồ tương tác vấn đề dân sinh”.
Cũng trong bài phát biểu chỉ đạo rất quan trọng này, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu: Trong 3 tháng sau Đại hội: hoàn thành kiện toàn tổ chức, ban hành Kế hoạch thực hiện 3 Nhất quán, khai trương “Cổng Mặt trận số”, chọn mỗi tỉnh/thành 1 mô hình điểm về đối thoại xã hội và 1 mô hình điểm về an sinh cộng đồng. Trong 6 tháng sau Đại hội: tổ chức “Tháng nghe dân nói” đồng loạt ở các cấp, các tổ chức, đoàn thể thuộc Mặt trận; vận hành bản đồ số về vấn đề dân sinh; chấm dứt tình trạng “hình nón ngược” ở tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ bằng đề án mở rộng cơ sở tại khu công nghiệp, khu nhà trọ, nông thôn mới. Trong 1 năm: đánh giá độc lập bộ chỉ số niềm tin xã hội cấp tỉnh; công bố kết quả an sinh cộng đồng; nhân rộng mô hình đối thoại xã hội nếu đạt tiêu chí.
2. Thực trạng công tác tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại tỉnh Phú Thọ
2.1. Phát triển mạng lưới chủ thể và đa dạng hóa kênh tiếp nhận
Thực hiện chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã hình thành một hệ sinh thái phối hợp nhịp nhàng giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội (Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên), Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Ban Tuyên giáo các cấp. Theo đó, các kênh truyền thống (tiếp xúc cử tri, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với Nhân dân, tiếp công dân) tiếp tục được phát huy để không ngừng nâng cao hiệu quả công tác tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân. Đặc biệt là trong các đợt tổ chức giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp xã và công tác phản biện xã hội; tổ chức lấy ý kiến của cử tri và Nhân dân để Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp xã tập hợp, phản ánh, gửi báo cáo đến kỳ họp Hội đồng nhân dân cùng cấp và các phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các kỳ họp của Quốc hội.
Trong quá trình triển khai thực hiện công tác tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên ở cấp tỉnh, cấp xã của tỉnh Phú Thọ đã có những mô hình hay, sáng tạo và hiệu quả tại cơ sở. Điển hình như phường Phong Châu nổi bật với mô hình “Lắng nghe dân nói” qua mã QR và Fanpage; Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh duy trì 100% cơ sở Hội có Fanpage/nhóm Zalo; Hội Cựu chiến binh xây dựng hệ thống tổ thông tin - cộng tác viên dư luận xã hội rộng khắp đến từng xã, phường.
2.2. Những nội dung trọng tâm phản ánh, kiến nghị của cử tri và Nhân dân tỉnh Phú Thọ gửi đến Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp xã
Qua tổng hợp từ các báo cáo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Phú Thọ, kết quả khảo sát thực tế và hội thảo khoa học do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiến hành cho thấy ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân tỉnh Phú Thọ gửi đến Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tập trung vào 08 nhóm vấn đề lớn:
Vấn đề lớn thứ nhất là những khó khăn, vướng mắc đặt ra trong công tác đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, như các dự án chậm triển khai, dự án “treo”, ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất và gây lãng phí nguồn lực. Một số doanh nghiệp cũng phản ánh một số dự án bị đình trệ do vướng mắc, chồng chéo giữa thủ tục đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, xác định giá đất và nghĩa vụ tài chính.v.v.
Vấn đề lớn thứ hai là chủ trương và thực tiễn triển khai thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư hạ tầng thiết yếu (như giao thông, thủy lợi, xử lý sạt lở và nguy cơ sạt lở, nước sạch, vệ sinh môi trường, an toàn vệ sinh lao động, an toàn thực phẩm, y tế và giáo dục).
Vấn đề lớn thứ ba được cử tri và Nhân dân tỉnh Phú Thọ quan tâm phản ánh, kiến nghị là bảo vệ môi trường tại các khu vực dự án và cụm công nghiệp (bụi, khói từ hoạt động giao thông, xây dựng, khu, cụm công nghiệp và cơ sở sản xuất gần khu dân cư; ô nhiễm nguồn nước, kênh mương, mùi hôi và chất thải từ chăn nuôi, làng nghề ảnh hưởng đến sinh hoạt, sản xuất của người dân).
Vấn đề lớn thứ tư được phản ánh là chính sách và thực hiện chính sách an sinh xã hội, việc làm và biến động giá cả thị trường của cả nước và địa bàn tỉnh (chính sách tiền lương trong tương quan với giá cả và năng suất lao động; tăng cường đào tạo nghề, đào tạo lại, dự báo nhu cầu tuyển dụng và kết nối thị trường lao động. Đồng thời, cần mở rộng khả năng tham gia bảo hiểm đối với lao động có thu nhập thấp; gắn hỗ trợ nhà ở, đào tạo nghề, tín dụng và trợ giúp xã hội với tạo việc làm, sinh kế bền vững, bảo đảm chính sách đến đúng người, kịp thời, giúp người dân ổn định cuộc sống và hạn chế tái nghèo…).
Vấn đề lớn thứ năm là vận hành chính quyền cấp xã sau sắp xếp (thực hiện thủ tục hành chính, chế độ phụ cấp cho đội ngũ cán bộ không chuyên trách…).
Vấn đề lớn thứ sáu là việc thực hiện các chính sách chuyển tiếp sau hợp nhất tỉnh Phú Thọ, sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã và xử lý các dự án tồn đọng kéo dài trước và từ khi triển khai thực hiện mô hình chính quyện địa phương 02 cấp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Vấn đề lớn thứ bảy là công tác an ninh, trật tự và phòng chống tội phạm công nghệ cao trên địa bàn cả nước và tỉnh Phú Thọ (tình trạng tội phạm công nghệ cao, lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng, nhất là các hành vi sử dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ Deepfake để giả mạo hình ảnh, giọng nói, giả danh cơ quan nhà nước, ngân hàng, nhà trường, người thân; tăng cường cảnh báo thủ đoạn lừa đảo theo từng nhóm đối tượng, chú trọng người cao tuổi, phụ nữ, học sinh, sinh viên, người dân vùng sâu, vùng xa và người hạn chế về kỹ năng số).
Vấn đề lớn thứ tám là các vấn đề đặc thù theo từng nhóm đối tượng (lao động nữ, thanh niên công nhân lưu trú, nông dân sản xuất...).
2.3. Khoảng cách giữa “đã trả lời” và “đã giải quyết dứt điểm”
Mặc dù chính quyền các cấp tại tỉnh Phú Thọ (đặc biệt là Ủy ban nhân dân tỉnh) đã duy trì cơ chế tiếp nhận và giao nhiệm vụ giải quyết nghiêm túc (ví dụ: hàng trăm kiến nghị từ các kỳ họp Hội đồng nhân dân và Mặt trận Tổ quốc các cấp đều có văn bản phân công cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết và trả lời Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp), song thực tiễn cho thấy tỷ lệ kiến nghị được giải quyết dứt điểm còn hạn chế so với số lượng đang nghiên cứu, xử lý. Nhiều văn bản trả lời mang tính giải thích, viện dẫn lại quy định, thiếu lộ trình rõ ràng, dẫn đến tình trạng cử tri kiến nghị lặp lại nhiều lần ở nhiều kỳ họp khác nhau.
3. Đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân
Qua tổng hợp từ các báo cáo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Phú Thọ, kết quả khảo sát thực tế và hội thảo khoa học do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiến hành cho thấy ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân tỉnh Phú Thọ cho thấy những đặc điểm nổi bật như sau:
3.1. Ưu điểm nổi bật
Một là, đã có sự chuyển biến tích cực về tư duy đối với công tác tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân. Theo đó, đã chuyển từ “tổng hợp mang tính hành chính, liệt kê hình thức” sang “tổng hợp để tham mưu chính sách và thúc đẩy giải quyết”.
Hai là, hệ thống đầu mối tiếp nhận, tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân không bị đứt gãy. Cụ thể là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư, tổ dân phố ở tỉnh Phú Thọ nhanh chóng được kiện toàn, duy trì thông suốt kênh kết nối với người dân sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã.
Ba là, hiệu quả phối hợp trong công tác tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân được duy trì, giữ vững. Theo đó, Quy chế phối hợp giữa Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Phú Thọ tiếp tục phát huy, tạo cơ sở vững chắc để đưa các vấn đề bức xúc của người dân vào chương trình công tác trọng điểm của các cơ quan, tổ chức trong toàn hệ thống chính trị của tỉnh Phú Thọ.
3.2. Hạn chế và nguyên nhân chủ yếu
Về hạn chế: Năng lực nắm bắt tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân có lúc còn thụ động, phụ thuộc vào các đợt tiếp xúc cử tri định kỳ; chưa dự báo tốt các điểm nóng xã hội (như tranh chấp lao động, ô nhiễm môi trường); Dữ liệu tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân còn có sự phân tán, thiếu sự liên thông giữa các cơ quan, đơn vị; số liệu thống kê giữa các thời kỳ còn vênh nhau.
Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên chủ yếu là do khách quan, mà nổi bật là do khối lượng công việc của hệ thống chính trị cấp xã tăng mạnh trong khi biên chế tiếp tục tinh gọn; còn thiếu một quy trình chuẩn khép kín mang tính đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị về tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân; kỹ năng phân tích dữ liệu và ứng dụng công nghệ của một bộ phận cán bộ, công chức cấp cơ sở còn hạn chế.
4. Các giải pháp và đề xuất, kiến nghị nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân
Để nâng cao chất lượng công tác tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn mới, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp trọng tâm sau:
Thứ nhất, cần chuẩn hóa quy trình khép kín (5 rõ). Theo hướng này, cần thực hiện nhất quán phương châm “rõ nội dung, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ tiến độ, rõ kết quả”. Mỗi ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân khi được tiếp nhận và xem xét, giải quyết phải được cấp một mã theo dõi riêng trên hệ thống số dùng chung để giám sát vòng đời xử lý.
Thứ hai, đẩy mạnh chuyển đổi số và liên thông dữ liệu. Theo hướng này, cần nâng cấp Cổng “Mặt trận số 24/7” thành nền tảng dữ liệu dùng chung toàn hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, kết nối trực tiếp với cơ chế xử lý của cơ quan dân cử và chính quyền các cấp; ứng dụng có kiểm soát trí tuệ nhân tạo (AI) để phân loại và cảnh báo kiến nghị chậm tiến độ xem xét, xử lý, giải quyết, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân.
Thứ ba, gắn kết chặt chẽ công tác tập hợp, phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân với công tác giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần đưa các vấn đề nổi cộm, bức xúc, được phản ánh, kiến nghị kéo dài vào chương trình giám sát định kỳ hoặc đề xuất đối thoại trực tiếp với người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, trách nhiệm xem xét, giải quyết.
Thứ tư, xây dựng bộ chỉ số đánh giá thực chất hiệu quả công tác tập hợp, phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân. Theo hướng này, cần xem xét, áp dụng các chỉ số đo lường cụ thể (tỷ lệ trả lời đúng hạn, tỷ lệ giải quyết dứt điểm, mức độ hài lòng của người kiến nghị) thay vì chỉ tổng hợp số lượng báo cáo của các cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Thứ năm, tiếp tục nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp cơ sở nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về “Năm nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở”: Tổ chức bồi dưỡng thường xuyên các kỹ năng lắng nghe, phỏng vấn, xác minh thông tin và xử lý dữ liệu số cho cán bộ, công chức Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã và Trưởng ban Ban Công tác Mặt trận.
Cùng với các giải pháp nêu trên, kiến nghị: (1) Ban Bí thư và các cơ quan Đảng Trung ương nghiên cứu bổ sung quy định cụ thể về trách nhiệm giải trình và thời hạn phản hồi kiến nghị của cấp ủy, chính quyền khi nhận được báo cáo từ MTTQ; gắn kết quả này với tiêu chí đánh giá người đứng đầu. (2) Quốc hội và Chính phủ tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý hướng dẫn mô hình chính quyền địa phương 02 cấp; có chính sách đãi ngộ, phụ cấp phù hợp đối với đội ngũ người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố và Trưởng ban Ban Công tác Mặt trận. (3) Đối với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cần xem xét, ban hành quy trình mẫu, biểu mẫu thống nhất và bộ chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác tập hợp, phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân để áp dụng thống nhất trên quy mô toàn quốc.
Kết luận
Phát biểu chỉ đạo tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031 (ngày 12/5/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh và chỉ rõ: Mặt trận vừa phải đưa chủ trương đúng của Đảng, chính sách đúng của Nhà nước đến với Nhân dân, vừa phải đưa tiếng nói, nguyện vọng, sáng kiến, bức xúc chính đáng của Nhân dân đến với Đảng, Nhà nước. Mặt trận không thể mạnh nếu xa dân; không thể đổi mới nếu chỉ là lời văn trong nghị quyết; không thể đại diện cho Nhân dân nếu không nghe được tiếng nói thật của Nhân dân và nói dân không hiểu; không thể giám sát, phản biện có chất lượng nếu thiếu bản lĩnh, thiếu dữ liệu, thiếu chuyên gia và thiếu cơ chế theo đến cùng các kiến nghị chính đáng. Đặc biệt, phải có cơ chế theo dõi đến cùng việc giải quyết kiến nghị sau giám sát, phản biện; không để kiến nghị của Mặt trận chỉ dừng lại ở báo cáo, không để kiến nghị chính đáng của Nhân dân rơi vào im lặng. Công tác Mặt trận là công tác với con người, với lòng dân, với niềm tin xã hội. Cán bộ Mặt trận phải có bản lĩnh chính trị, có tâm với dân, có uy tín trong cộng đồng, có kỹ năng vận động, đối thoại, thuyết phục, phản biện, xử lý tình huống; không được xa dân, không thể chỉ làm việc qua báo cáo; phải đi đến nơi, nghe đến cùng, nói đúng sự thật, kiến nghị đúng chỗ, theo đến cùng kết quả. Chuyển đổi số phải tạo ra phương thức mới để Mặt trận gần dân hơn, nghe dân rộng hơn, phản hồi dân nhanh hơn, giám sát việc giải quyết kiến nghị của dân minh bạch hơn. Cần vận hành hiệu quả các nền tảng số để Nhân dân có thể phản ánh, kiến nghị, góp ý mọi lúc, mọi nơi; phát triển Cổng Mặt trận số 24/7, tổ chức “Tháng nghe dân nói”, triển khai Bộ chỉ số niềm tin xã hội cấp tỉnh.
Để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp tiếp tục nhận thức sâu sắc hơn nữa về vị trí, vai trò của Mặt trận; thật sự tôn trọng, lắng nghe, phối hợp và tạo điều kiện để Mặt trận thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó. Ý kiến giám sát, phản biện, kiến nghị của Mặt trận phải được coi là kênh quan trọng để hoàn thiện lãnh đạo, quản lý, điều hành. Cấp ủy, chính quyền phải có trách nhiệm tiếp thu, giải trình, phản hồi rõ ràng. Đồng thời, Mặt trận cũng phải nâng cao chất lượng kiến nghị; nói đúng, nói trúng, nói có căn cứ, nói vì lợi ích chung, nói trên tinh thần xây dựng và theo dõi đến cùng việc giải quyết.
Thực tiễn nghiên cứu công tác tập hợp, phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân tại tỉnh Phú Thọ đã cho thấy, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, công tác tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân muốn đạt hiệu quả cao phải thống nhất nhận thức và chủ động nắm bắt cách thức thực hiện thay vì chỉ chờ phản ánh, kiến nghị. Mỗi ý kiến, kiến nghị, phản ánh của người dân khi được tiếp nhận phải đôn đốc, theo dõi đến cùng quá trình xem xét, giải quyết; mỗi ý kiến, kiến nghị, phản ánh chuyển đi phải có địa chỉ chịu trách nhiệm rõ ràng, qua đó Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực sự phát huy vai trò là nền tảng vững chắc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới./.
TS Phạm Thị Hồng - Phó Trưởng ban Ban Dân chủ, Giám sát và Phản biện xã hội, Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả