Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Đại đoàn kết các dân tộc trong bảo đảm bình đẳng cơ hội phát triển ở Việt Nam - cơ sở lý luận, thực tiễn và giải pháp

Ngày đăng: 06/11/2026   11:17
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, kết hợp phân tích tài liệu, chính sách và tổng hợp thực tiễn để làm rõ mối quan hệ giữa đại đoàn kết các dân tộc với khả năng tiếp cận giáo dục, sinh kế, dịch vụ công và quyền tham gia phát triển của đồng bào dân tộc thiểu số, bài viết tập trung phân tích các định hướng chính sách được thể hiện trong Nghị quyết số 24-NQ/TW, Kết luận số 65-KL/TW, Nghị quyết số 43-NQ/TW và Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, Nghị quyết số 46/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội khóa XVI phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, qua đó nhận diện những rào cản đối với bình đẳng cơ hội thực chất. Đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện thể chế, phân bổ nguồn lực công bằng, nâng cao năng lực cộng đồng và phát huy quyền chủ thể của người dân, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với phát triển bao trùm.

Từ khóa: Bình đẳng cơ hội phát triển; chính sách dân tộc; dân tộc thiểu số; đại đoàn kết các dân tộc; phát triển bao trùm.

Abstract: Adopting an interdisciplinary approach that combines document and policy analysis with a synthesis of practical experience, this article examines the relationship between great unity among ethnic groups and ethnic minorities’ access to education, livelihoods, public services, and the right to participate in development. It focuses on analyzing policy orientations reflected in Resolution No. 24-NQ/TW, Conclusion No. 65-KL/TW, Resolution No. 43-NQ/TW, Decision No. 1719/QĐ-TTg dated October 14, 2021, of the Prime Minister approving the National Target Program for Socio-Economic Development in Ethnic Minority and Mountainous Areas for 2021 - 2030, and Resolution No. 46/2026/QH16 dated August 24, 2026, of the 16th National Assembly approving the investment policy for the National Target Program on Cultural and Socio-Economic Development in Rural, Ethnic Minority, and Mountainous Areas for 2026 - 2035. Through this analysis, the article identifies barriers to substantive equality of opportunity and proposes directions for institutional improvement, equitable allocation of resources, enhancement of community capacity, and promotion of people's agency, thereby contributing to strengthening great national unity in conjunction with inclusive development.

Keywords: Equality of development opportunities; ethnic policies; ethnic minorities; great unity among ethnic groups; inclusive development.

Đặt vấn đề

Đại đoàn kết các dân tộc là nguyên tắc chiến lược, nền tảng chính trị - xã hội và động lực quan trọng bảo đảm bình đẳng cơ hội phát triển ở Việt Nam. Tuy nhiên, chênh lệch về điều kiện kinh tế, chất lượng giáo dục, sinh kế và khả năng tiếp cận nguồn lực giữa các cộng đồng dân tộc vẫn đặt ra yêu cầu thu hẹp khoảng cách phát triển. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã xác lập những định hướng quan trọng thông qua Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Bộ Chính trị về công tác dân tộc; Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW; Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc và Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I từ năm 2021 đến năm 2025; Nghị quyết số 46/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội khóa XVI phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035. Trên cơ sở đó, nghiên cứu làm rõ mối quan hệ giữa đại đoàn kết và bình đẳng cơ hội, nhận diện những rào cản thể chế, kinh tế - xã hội, đồng thời đề xuất giải pháp phát huy nội lực cộng đồng, bảo đảm công bằng và phát triển bao trùm, bền vững.

1. Cơ sở lý luận và chính sách về đại đoàn kết các dân tộc và bình đẳng cơ hội phát triển

Đại đoàn kết các dân tộc là sự gắn bó, hợp tác và thống nhất về lợi ích căn bản giữa các cộng đồng dân tộc trong quốc gia thống nhất, trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng, tương trợ và cùng phát triển. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết là chiến lược lâu dài, nguồn sức mạnh quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng. Dưới góc độ phát triển, bình đẳng cơ hội không chỉ là sự bình đẳng về quyền pháp lý mà còn thể hiện ở khả năng tiếp cận thực chất các nguồn lực giáo dục, y tế, sinh kế và tham gia quản trị xã hội.

Về lý luận, tiếp cận công bằng của John Rawls nhấn mạnh yêu cầu điều chỉnh những bất lợi về điều kiện xuất phát; tiếp cận năng lực của Amartya Sen đề cao khả năng hiện thực hóa các lựa chọn phát triển. Từ đó, đại đoàn kết các dân tộc được xem là nền tảng xã hội thúc đẩy công bằng phân phối, mở rộng năng lực và bảo đảm quyền phát triển.

Về chính sách, Điều 5 Hiến pháp năm 2013 khẳng định nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc. Đồng thời Nghị quyết số 24-NQ/TW, Kết luận số 65-KL/TW và Nghị quyết số 43-NQ/TW tiếp tục xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề chiến lược. Quyết định số 1719/QĐ-TTg và Nghị quyết số 46/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội khóa XVI đã cụ thể hóa định hướng này thông qua chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Như vậy, đại đoàn kết giữ vai trò tạo nền tảng đồng thuận xã hội, trong khi thể chế công bằng và chính sách phát triển bao trùm là điều kiện chuyển hóa sức mạnh đoàn kết thành bình đẳng cơ hội thực chất, bền vững.

2. Vai trò của đại đoàn kết các dân tộc trong bảo đảm bình đẳng cơ hội phát triển

Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta, là đường lối chiến lược, “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta; là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trải qua các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, đặc biệt qua 40 năm đổi mới, quan điểm của Đảng ta về phát huy sức mạnh của Nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được thể hiện ngày càng sâu sắc, toàn diện. Tại Đại hội XIV của Đảng, trên cơ sở đánh giá sâu sắc thành tựu của đất nước qua 40 năm đổi mới, Đảng ta tiếp tục khẳng định rõ vai trò, sức mạnh của Nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khẳng định sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chính là sức mạnh của quốc gia (Bùi Thị Minh Hoài, 2026).

Đại đoàn kết các dân tộc giữ vai trò nền tảng chính trị - xã hội, tạo động lực thúc đẩy công bằng, thu hẹp khoảng cách phát triển và củng cố sự gắn kết giữa các cộng đồng dân tộc ở Việt Nam. Vai trò này thể hiện trên những phương diện chủ yếu sau:

Một là, tạo nền tảng đồng thuận xã hội và bảo đảm quyền phát triển bình đẳng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, Nghị quyết số 24-NQ/TW, Kết luận số 65-KL/TW và Nghị quyết số 43-NQ/TW khẳng định yêu cầu đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển. Đây là cơ sở chính trị quan trọng để tăng cường niềm tin, huy động nguồn lực và phát huy trách nhiệm của các chủ thể trong thực hiện chính sách dân tộc.

Hai là, thúc đẩy bình đẳng trong tiếp cận giáo dục và phát triển nguồn nhân lực. Đoàn kết giữa các dân tộc tạo điều kiện tăng cường hợp tác, chia sẻ nguồn lực giáo dục, hỗ trợ học sinh vùng khó khăn, nâng cao chất lượng đào tạo nghề và năng lực số, qua đó mở rộng cơ hội phát triển của đồng bào dân tộc thiểu số.

Ba là, mở rộng cơ hội sinh kế và thu hẹp chênh lệch về kinh tế. Trong đó, Quyết định số 1719/QĐ-TTg và Nghị quyết số 46/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội khóa XVI đã cụ thể hóa mục tiêu phát triển vùng dân tộc thiểu số thông qua đầu tư hạ tầng, hỗ trợ sản xuất, giảm nghèo và phát triển sinh kế. Sự đoàn kết, hợp tác cộng đồng góp phần nâng cao hiệu quả liên kết kinh tế và khả năng tiếp cận thị trường.

Bốn là, phát huy quyền tham gia và năng lực tự chủ của cộng đồng. Thông qua dân chủ ở cơ sở, vai trò định hướng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, người có uy tín và các tổ chức xã hội, đồng bào được tạo điều kiện tham gia xây dựng, giám sát và thụ hưởng chính sách.

Như vậy, đại đoàn kết các dân tộc không chỉ củng cố ổn định xã hội mà còn tạo điều kiện chuyển hóa các nguyên tắc bình đẳng thành cơ hội phát triển thực chất. Hiệu quả chuyển hóa phụ thuộc vào chất lượng thể chế, tính công bằng trong phân bổ nguồn lực và mức độ tham gia của người dân, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, bền vững.

3. Phát huy đại đoàn kết các dân tộc gắn với bảo đảm bình đẳng cơ hội phát triển ở Việt Nam

Thấm nhuần lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân là người sáng tạo nên lịch sử và tư tưởng “Dân là gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng, đưa dân tộc ta, đất nước ta làm nên những thắng lợi vĩ đại, từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, từ Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đến công cuộc đổi mới đất nước. Mỗi bước ngoặt lịch sử đều in đậm dấu ấn của sự chung sức, đồng lòng của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng (Bùi Thị Minh Hoài, 2026).

Tại Đại hội XIV của Đảng, trên cơ sở đánh giá sâu sắc thành tựu của đất nước qua 40 năm đổi mới, Đảng ta tiếp tục khẳng định rõ vai trò, sức mạnh của Nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chính là sức mạnh của quốc gia và đề ra những chủ trương, quan điểm, nhiệm vụ để tiếp tục khơi dậy mạnh mẽ sức mạnh nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thực hiện mục tiêu phát triển, xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc (Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, 2026).

Qua 40 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng (từ năm 1986 đến nay), đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao với định hướng xã hội chủ nghĩa; vai trò, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước ta ngày càng được nâng cao; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được cải thiện, nâng lên rõ rệt; quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc. Những thành tựu đó là kết quả của sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng ta và là minh chứng rõ nét cho tính đúng đắn của đường lối đổi mới, phát triển đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta và Nhân dân ta đã lựa chọn. Những kết quả, thành tựu phát triển đó cũng chính là kết quả của sự đóng góp công sức, trí tuệ, cống hiến của mọi tầng lớp nhân dân, của doanh nhân, trí thức, của các dân tộc, của chiến sĩ, đồng bào và kiều bào ta ở nước ngoài… (Bùi Thị Minh Hoài, 2026).

Trong những năm qua, việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc gắn với bảo đảm bình đẳng cơ hội phát triển ở Việt Nam đạt được những kết quả quan trọng, phản ánh sự chuyển biến từ nhận thức chính trị sang thể chế hóa và tổ chức thực hiện chính sách. Nghị quyết số 24-NQ/TW, Kết luận số 65-KL/TW và Nghị quyết số 43-NQ/TW tiếp tục khẳng định nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Đây là cơ sở, tiền đề quan trọng để củng cố đồng thuận xã hội, huy động nguồn lực và từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các cộng đồng dân tộc.

Về thực tiễn, Quyết định số 1719/QĐ-TTg đã cụ thể hóa chính sách dân tộc thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I từ năm 2021 đến năm 2025, với 10 dự án thành phần, tập trung giải quyết những thiếu hụt về hạ tầng, giáo dục, y tế, nhà ở, đất sản xuất và sinh kế. Ngày 24/8/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Nghị quyết số 46/2026/QH16 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, theo đó Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035 được hợp nhất từ Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035; Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035; Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035; Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035). Đáng chú ý, các chính sách không chỉ hướng đến hỗ trợ vật chất mà còn tạo điều kiện nâng cao năng lực tự chủ, tăng cường sự tham gia của cộng đồng và phát huy nguồn lực văn hóa trong phát triển.

Kết quả Điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2024 do Cục Thống kê công bố tháng 6/2026, cung cấp những thông tin, số liệu cần quan tâm. Dân số của 53 dân tộc thiểu số đạt khoảng 14,8 triệu người, chiếm 14,6% dân số cả nước. Tỷ lệ người dân tộc thiểu số từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết chữ phổ thông đạt 84,6%, tăng 3,7 điểm phần trăm so với năm 2019, nhưng vẫn thấp hơn mức chung toàn quốc 12 điểm phần trăm. Điều này cho thấy tiến bộ về giáo dục chưa đồng nghĩa với bình đẳng cơ hội thực chất (Cục Thống kê, 2026).

Trong lĩnh vực sinh kế và tiếp cận nguồn lực, 22% hộ dân tộc thiểu số được vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội trong năm 2023 và 06 tháng đầu năm 2024. Tỷ lệ hộ sử dụng thiết bị kết nối internet tại nhà đạt 85,6%, song chênh lệch giữa thành thị và nông thôn là 8,2 điểm phần trăm. Đặc biệt, tỷ lệ này ở dân tộc La Hủ chỉ đạt 43,9% và Rơ-măm 31,8%. Những khác biệt phản ánh tác động của điều kiện địa lý, hạ tầng và năng lực tiếp cận thông tin đối với cơ hội phát triển (Cục Thống kê, 2026).

Ở cấp địa phương, số liệu điều tra năm 2024 ghi nhận tỷ lệ thôn có đường giao thông đến trung tâm xã được cứng hóa đạt 97,5% tại vùng điều tra; riêng tỉnh Sơn La đạt 82,8%. Đây là minh chứng cho những tiến bộ về hạ tầng, đồng thời cho thấy nhu cầu tiếp tục ưu tiên địa bàn khó khăn nhằm bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ và thị trường (Cục Thống kê, 2026).

Từ góc độ quản trị, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, người có uy tín và các tổ chức cộng đồng có ý nghĩa quan trọng trong vận động nhân dân, tạo đồng thuận và giám sát chính sách. Tuy nhiên, hiệu quả đại đoàn kết cần được đánh giá không chỉ qua mức độ đồng thuận mà còn bằng quyền tham gia thực chất và khả năng thụ hưởng thành quả phát triển.

Nhìn tổng thể, chính sách dân tộc đã góp phần mở rộng cơ hội phát triển, nhưng sự chênh lệch về giáo dục, sinh kế và hạ tầng vẫn tồn tại. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là chuyển từ bảo đảm bình đẳng về quyền sang bình đẳng thực chất về năng lực tiếp cận, tham gia và thụ hưởng, qua đó củng cố bền vững khối đại đoàn kết các dân tộc.

4. Những vấn đề đặt ra trong bảo đảm bình đẳng cơ hội phát triển giữa các dân tộc

Thứ nhất, chênh lệch về điều kiện phát triển giữa các dân tộc, vùng miền còn đáng kể. Kết quả Điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2024 cho thấy tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết chữ phổ thông đạt 84,6%, thấp hơn mức chung toàn quốc khoảng 12 điểm phần trăm. Điều này phản ánh những bất lợi trong tiếp cận giáo dục và phát triển nguồn nhân lực.

Thứ hai, bất bình đẳng về khả năng tiếp cận nguồn lực vẫn tồn tại. Chênh lệch về hạ tầng, tín dụng, công nghệ số và thị trường lao động làm hạn chế cơ hội chuyển đổi sinh kế, nhất là tại địa bàn đặc biệt khó khăn.

Thứ ba, hiệu quả thực thi chính sách chưa đồng đều. Việc cụ thể hóa Nghị quyết số 43-NQ/TW và Nghị quyết số 46/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội khóa XVI phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 đặt ra yêu cầu nâng cao tính liên kết, công bằng trong phân bổ nguồn lực và trách nhiệm giải trình.

Thứ tư, quyền tham gia thực chất của cộng đồng cần tiếp tục được tăng cường. Nếu người dân chưa có tiếng nói đầy đủ trong hoạch định, giám sát và đánh giá chính sách, mục tiêu bình đẳng khó chuyển hóa thành kết quả bền vững.

Những vấn đề trên cho thấy, đại đoàn kết các dân tộc phải gắn với công bằng thực chất, nâng cao năng lực tự chủ và bảo đảm mọi cộng đồng đều có cơ hội tham gia, thụ hưởng thành quả phát triển.

5. Giải pháp phát huy đại đoàn kết các dân tộc gắn với bảo đảm bình đẳng cơ hội phát triển

Để chuyển hóa sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc thành động lực bảo đảm bình đẳng cơ hội phát triển thực chất, cần triển khai đồng bộ các giải pháp trên cơ sở cụ thể hóa Nghị quyết số 24-NQ/TW, Kết luận số 65-KL/TW, Nghị quyết số 43-NQ/TW và Nghị quyết số 46/2026/QH16 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, cụ thể:

Một là, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả chính sách dân tộc. Chuyển từ hỗ trợ bình quân sang phân bổ nguồn lực dựa trên mức độ thiếu hụt, điều kiện phát triển và nhu cầu đặc thù của từng cộng đồng; bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và giám sát độc lập.

Hai là, ưu tiên giáo dục và phát triển nguồn nhân lực. Thu hẹp khoảng cách tiếp cận giáo dục, nâng cao chất lượng trường học vùng khó khăn, phát triển giáo dục nghề nghiệp và năng lực số. Kết quả điều tra năm 2024 cho thấy tỷ lệ người dân tộc thiểu số từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết chữ phổ thông đạt 84,6%, đặt ra yêu cầu tiếp tục đầu tư có trọng tâm cho giáo dục.

Ba là, phát triển sinh kế bền vững và mở rộng cơ hội kinh tế. Đẩy mạnh tín dụng chính sách, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, thương mại điện tử, du lịch cộng đồng và phát triển sản phẩm OCOP địa phương gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa.

Bốn là, phát huy dân chủ cơ sở và quyền chủ thể của cộng đồng. Nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc, người có uy tín, phụ nữ và thanh niên dân tộc thiểu số trong tham vấn, thực hiện và giám sát chính sách.

Năm là, đổi mới quản trị và đánh giá kết quả phát triển. Xây dựng hệ thống chỉ số đo lường bình đẳng cơ hội về giáo dục, thu nhập, dịch vụ công và mức độ tham gia; lấy sự cải thiện thực chất đời sống người dân làm thước đo hiệu quả.

Về bản chất, đại đoàn kết chỉ trở thành nguồn lực phát triển bền vững khi được bảo đảm bằng thể chế công bằng, cơ hội tiếp cận bình đẳng và năng lực tự chủ của mỗi cộng đồng dân tộc.

Kết luận

Đại đoàn kết các dân tộc là nền tảng chính trị - xã hội, đồng thời là động lực quan trọng bảo đảm bình đẳng cơ hội phát triển ở Việt Nam. Nghị quyết số 43-NQ/TW và Nghị quyết số 46/2026/QH16 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 đã xác lập những định hướng quan trọng nhằm củng cố đoàn kết, thu hẹp khoảng cách phát triển và thúc đẩy công bằng xã hội. Tuy nhiên, chênh lệch về giáo dục, sinh kế và tiếp cận nguồn lực vẫn đặt ra yêu cầu đổi mới chính sách dân tộc theo hướng bao trùm. Nghiên cứu khẳng định cần gắn đại đoàn kết với công bằng thể chế, phân bổ nguồn lực hợp lý và phát huy quyền chủ thể của cộng đồng, lấy bình đẳng cơ hội thực chất làm thước đo phát triển bền vững./.

-------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị (2019), Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc, Hà Nội.

2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023), Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, Hà Nội.

3, 8. Cục Thống kê (2026), Kết quả Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024, Hà Nội.

4. Chính phủ (2021), Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 03/3/2021 ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, Hà Nội.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

7. Bùi Thị Minh Hoài (2026), Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1219302/phat-huy-suc-manh-dai-doan-ket-toan-dan-toc-trong-su-nghiep-xay-dung%2C-phat-trien-dat-nuoc-va-bao-ve-to-quoc-trong-ky-nguyen-moi.aspx.

9. Cục Thống kê (2025), Thông cáo báo chí kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024, Hà Nội.

10. Cục Thống kê (2025), Thông cáo báo chí các nghiên cứu chuyên sâu được xây dựng từ kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ và Điều tra, thu thập thông tin thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số, Hà Nội.

11. Hồ Chí Minh, Toàn tập (2011), tập 3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

12. Hồ Chí Minh, Toàn tập (2011), tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

13. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác dân tộc, Hà Nội.

14. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội.

15. Quốc hội (2019), Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, Hà Nội.

16. Quốc hội (2020), Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, Hà Nội.

17. Quốc hội, Nghị quyết số 46/2026/QH16 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035.

18. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025, Hà Nội.

19. Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê (2020), Kết quả Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019, Hà Nội.

20. Báo cáo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 và định hướng nội dung giai đoạn 2026-2030, ngày 13/8/2025, Hà Nội.

21. Thu Thanh (2018), Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức, Tạp chí Cộng sản điện tử, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1019302/view_content.

ThS Nguyễn Tấn Dân - Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ

Bài viết cùng tác giả